Tu Chân Đồ

/ Thân thể con người có 360 đốt xương, 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, sau có ba cửa tam quan là: Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm. Vĩ Lư tại đầu dưới cùng của xương sống, cửa quan này có thể thông với Khí trong Thận. Từ cửa quan này xuất phát một đường Tủy, gọi là Tào Khê, cũng gọi là Hoàng Hà, là đường thăng Dương. Thẳng đến chỗ hai xương vai hẹp lại là Giáp Tích. Lên tiếp tới Não là Ngọc Chẩm. Đó là hậu tam quan. Trước có ba đan điền là: Nê Hoàn, Thổ Phủ, Ngọc Trì. Nê Hoàn là Thượng Đan Điền, vuông 1 tấc 2 phân, trong có một khiếu, là chỗ tàng Thần. Từ Mi Tâm đi vào chính giữa Thiên Môn, vào 1 tấc là Minh Đường, vào thêm 1 tấc là Động Phòng, vào thêm 1 tấc nữa là Nê Hoàn. Dưới Mi Tâm là sống mũi, cũng gọi là Lôi Đình Phủ. Từ Kim Kiều đến miệng có hai khiếu thông hầu, gọi là Thước Kiều. Hầu là xương cổ, là nơi ra vào của Nội Ngoại Khí. Sau có xương sụn mềm gọi là Yết (cổ họng), là chỗ tiếp nhận đồ ăn uống, nó thông với Ruột (tràng) và Dạ dày (vị). Hầu có 12 đốt xương, gọi là Trùng Lâu. Thẳng xuống là Phế khiếu, cho đến tận Tâm, phía trên Tâm có xương, gọi là Cửu Vĩ. Phía dưới Tâm có huyệt, gọi là Giáng Cung, là chỗ Long Hổ giao hội. Thẳng tiếp xuống 3 tấc 6 phân, là Thổ Phủ (nồi đất), là Huỳnh Đình huyệt, là Trung Đan Điền.


/ Thân thể con người có 360 đốt xương, 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, sau có ba cửa tam quan là: Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm. Vĩ Lư tại đầu dưới cùng của xương sống, cửa quan này có thể thông với Khí trong Thận. Từ cửa quan này xuất phát một đường Tủy, gọi là Tào Khê, cũng gọi là Hoàng Hà, là đường thăng Dương. Thẳng đến chỗ hai xương vai hẹp lại là Giáp Tích. Lên tiếp tới Não là Ngọc Chẩm. Đó là hậu tam quan. Trước có ba đan điền là: Nê Hoàn, Thổ Phủ, Ngọc Trì. Nê Hoàn là Thượng Đan Điền, vuông 1 tấc 2 phân, trong có một khiếu, là chỗ tàng Thần. Từ Mi Tâm đi vào chính giữa Thiên Môn, vào 1 tấc là Minh Đường, vào thêm 1 tấc là Động Phòng, vào thêm 1 tấc nữa là Nê Hoàn. Dưới Mi Tâm là sống mũi, cũng gọi là Lôi Đình Phủ. Từ Kim Kiều đến miệng có hai khiếu thông hầu, gọi là Thước Kiều. Hầu là xương cổ, là nơi ra vào của Nội Ngoại Khí. Sau có xương sụn mềm gọi là Yết (cổ họng), là chỗ tiếp nhận đồ ăn uống, nó thông với Ruột (tràng) và Dạ dày (vị). Hầu có 12 đốt xương, gọi là Trùng Lâu. Thẳng xuống là Phế khiếu, cho đến tận Tâm, phía trên Tâm có xương, gọi là Cửu Vĩ. Phía dưới Tâm có huyệt, gọi là Giáng Cung, là chỗ Long Hổ giao hội. Thẳng tiếp xuống 3 tấc 6 phân, là Thổ Phủ (nồi đất), là Huỳnh Đình huyệt, là Trung Đan Điền.


Công quá cách

I. TỔNG QUÁT

Công Quá Cách bắt nguồn từ đời Hán. Trong Thái Bình Kinh đời Đông Hán có thuật ngữ «Thiên khoán» 天 券 , coi như đồng nghĩa với «Thiên cách» 天 格, tức là «Thiên chi cách pháp» 天 之  格  法 . Trong Hán Dịch 漢 易 có cách xem ngày tốt xấu theo bát quái do Mạnh Khang 孟 康 giảng, và thuật ngữ Thiên khoán chịu ảnh hưởng của cách xem ngày này nhưng các đạo sĩ đã cải biến ý nghĩa mà thành cách ghi công và tội mà mỗi cá nhân đã làm hàng ngày. Vậy Công Quá Cách là một dạng bảng tự kiểm hàng ngày. [2] Thiện ngôn thiện hành gọi là công và được ghi vào công cách 功格 ; ác ngôn ác hành gọi là quá và được ghi vào quá cách 過 格 . Lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách 太 微 仙 君 功 過 格 [3] viết: «Tu Chân chi sĩ, minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, tự tri công quá đa quả» 修 真 之 士 , 明 書 日 月 , 自 記 功 過 , 自 知 功 過 多 寡 (Người tu chân mỗi ngày mỗi tháng phải ghi rõ công và tội của mình để tự biết công và tội ấy nhiều hay ít). Cũng theo lời tựa này, đời Kim 金 (1115-1234) năm Đại Định 大 定 Tân Mão 辛卯 (1171) (triều vua Thế Tông 世 宗), một đạo sĩ tên là Hựu Huyền Tử 又 玄 子 đã mộng du tử phủ [4] 紫 府, triều lễ Thái Vi Tiên Quân và nhận lĩnh yếu chỉ Công Quá Cách; khi tỉnh mộng, chấp bút viết thành sách này.

Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘 呂 傳 道 集, [5] chương 18 - Luận Chứng Nghiệm 論 證 驗, viết: «Ư tử phủ triều kiến Thái Vi Tiên Quân, khế khám hương nguyên danh tính, hiệu lượng công hành đẳng thù, nhi ư Tam Đảo an cư, nãi viết chân nhân tiên tử" 於 紫 府 朝 見 太 微 仙 君, 契 勘 鄉 原 名 姓, 校 量 功 行 等 殊, 而 於 三 島 安 居, 乃 曰 真 人 仙 子 (Nơi cung tiên triều kiến Thái Vi Tiên Quân để được khám xét tên và nguyên quán có phù hợp chăng, rồi được xét công trạng đã làm vân vân, kế đến là an cư nơi ba đảo tiên, bấy giờ được gọi là thần tiên). [6]

Các học giả Nhật Bản, như Tửu Tỉnh Trung Phu 酒 井 忠 夫, Cát Cương Nghĩa Phong 吉 剛 義 豐, Thu Nguyệt Quan Ánh 秋 月 觀 映, cho rằng Thái Vi Tiên Chân Công Quá Cách có liên quan với Tịnh Minh Đạo 淨 明 道 vì giáo phái này yêu cầu đệ tử phải có cuốn sổ nhỏ, ghi chép những việc tội phước mỗi ngày để phản tỉnh mà tu dưỡng. Kinh Thái Thượng Linh Bảo Tịnh Minh Phi Tiên Độ Nhân Kinh Pháp 太 上 靈 寶 淨 明 飛 仙 度 人 經 法 của Tịnh Minh Đạo đời Nguyên dạy về Thập Giới 十 戒, thì giới thứ 3 yêu cầu mỗi người học đạo phải có một quyển nhật ký, gọi là nhật lục: «Nhật lục giả, sở dĩ tu kiểm thiện ác chi xứ» 日 錄 者 所 以 修 檢 善 惡 之 處 (Nhật lục là nơi tu dưỡng và kiểm điểm việc thiện ác của mình). Nó là «bất giáo chi sư dã, bất thuyết chi hữu dã, bất chiếu chi quân phụ, bất ước chi pháp độ» 不 教 之 師 也, 不 說 之 友 也, 不 詔 師 父, 不 約 之 法 度 (Người thầy không dạy, là người bạn không nói, là vua và cha không ra lệnh, là pháp độ không ấn định).

Nhưng cách tự ghi công và tội mà mình đã làm hàng ngày cũng rất phổ thông, đâu phải chỉ Tịnh Minh Đạo mới có. Cuối đời Đường đã có một bản Công Quá Cách khác gọi là Lữ Động Tân Thập Giới Công Quá Cách 呂 洞 賓十 誡 功 過 格. Lại có quyển Cảnh Thế Công Quá Cách 警 世 功 過 格 nữa. Như vậy Công Quá Cách có rất nhiều chủng loại. Phép tự kiểm bằng cách ghi ra sổ hoặc dùng hạt đậu (đậu vàng hoặc đỏ ghi việc thiện, đậu đen ghi việc ác) cũng là tập quán của Tống Nho. Tương truyền Phạm Trọng Yêm 范 仲 淹 (989-1052) và Tô Tuân 蘇 洵 (1009-1066) luôn có một cuốn công quá cách theo bên mình.

Chủ đề chính của Công Quá Cách vẫn là thiện ác báo ứng, một quan niệm hình thành vào thời Tiên Tần. Dịch Kinh, Văn ngôn 文 言 ở quẻ Khôn 坤, nói: «Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương» 積 善 之 家 , 必 有 餘 慶 ; 積 不 善 之 家 , 必 有 餘 殃 (Nhà nào tích thiện thì ắt có dư điều tốt lành; nhà nào tích ác thì ắt có dư tai ương). Thái Bình Kinh 太 平 經, thiên Đại Công Ích Niên Thư Xuất Tuế Nguyệt Giới 大 功 益 年 書 出 歲 月 戒, nói: «Quá vô đại tiểu, Thiên giai tri chi, bạ sớ thiện ác chi tịch, tuế nhật nguyệt câu hiệu, tiền hậu trừ toán giảm niên. Kỳ ác bất chỉ, tiện kiến quỷ môn» 過 無 大 小, 天 皆 知 之, 薄 疏 善 惡 之 籍, 歲 日 月 拘 校, 前 後 除 算 減 年. 其 惡 不 止, 便 見 鬼 門 (Tội lỗi chớ kể lớn nhỏ, Trời đều biết cả và ghi chép vào sổ thiện ác, vào ngày [cuối] tháng [8] mỗi năm đều có sửa đổi chỉnh lý, [xem] trước sau [để] trừ bớt tuổi thọ. Nếu không dừng tội ác, kẻ gây ác phải vào cửa quỷ). [7] Tuy nhiên trong các chủng loại Công Quá Cách, việc thiện được tính theo đơn vị là công 功 (như cứu sống một người trọng bệnh thì tính là 10 công, chẩn tế những kẻ quan quả cô độc [8] một trăm quan tiền thì tính là một công, v.v.), việc ác được tính theo đơn vị là quá 過 (như hại tính mạng người khác thì tính là 100 quá, hại sinh mạng mỗi con chim muông cầm thú thì tính là 10 quá, v.v.). Công và quá còn nhân lên với số ngày và số đối tượng liên đới (người / vật) như tạo thuyền bè và bắc cầu giúp người qua sông miễn phí thì phí tổn cứ 100 quan tiền là một công và mỗi người lao động một ngày được 10 công.

II. THÁI VI TIÊN QUÂN CÔNG QUÁ CÁCH

Nội dung cơ bản của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách 太 微 仙 君 功 過 格 gồm hai loại chính: Công Cách 功 格 (ghi điều thiện) và Quá Luật 過 律 (ghi điều ác).

Công cách có 36 điều, chia làm 4 loại:

(1) Cứu Tế 救 濟 (12 điều): nói về cứu bệnh nhân bằng y liệu châm cứu, giúp người khốn khó hoạn nạn bằng tài vật, tạo cầu sửa đường, chôn cất xác vô thừa nhận. Thí dụ, dùng thuốc và châm cứu trị người trọng bệnh (10 công); cứu người khỏi tội tử hình (100 công); chẩn tế những người quan quả cô độc (1 công cho mỗi 100 quan tiền); giúp người đói khát một miếng ăn miếng uống (1 công); giúp người lỡ bước một chỗ ngủ ấm áp trong đêm giá rét (1 công); chôn cất xác vô thừa nhận (50 công), v.v.

(2) Giáo điển 教 典 (7 điều): nói về truyền thụ kinh sách và pháp tu. Thí dụ, tự chú soạn kinh sách hay phép tắc cứu người là 30 công, v.v.

(3) Phần tu 焚 修 (việc hương khói và tu dưỡng, 5 điều): nói về việc kiến tạo miếu mạo, tượng thờ, các vật cúng dường. Thí dụ, tu bổ tượng thờ, điện thờ, cúng dường đồ khí mãnh, rèm trướng, bàn ghế và những vật dụng khác (1 công cho mỗi phí tổn 100 quan tiền); sớm chiều thắp nhang cầu an cho đất nước và bá tánh (mỗi lần 2 công) và cầu an cho mình (mỗi lần 1 công); vì dân vì nước vì tổ tiên quá vãng vì cô hồn vô chủ mà tụng kinh (một biến kinh lớn là 6 công, một biến kinh nhỏ là ba công), v.v.

(4) Dụng sự 用 事 (12 điều): nói về các loại việc thiện. Thí dụ, giảng dạy kinh sách khuyến thiện (cho mỗi 10 người thì được 1 công); lấy văn chương thi từ mà khuyến thiện (mỗi bài là 1 công); tiến cử người hiền tài đạo đức (tiến cử 1 người thì được 10 công); tán dương việc thiện của người (mỗi việc 1 công); ngăn chận việc ác của người (mỗi việc 1 công); khuyên người chớ bất liêm, bất hiếu, bất trinh, bất lương, bất nghĩa, bất thiện, bất từ, bất nhân (mỗi người hồi tâm tùng thiện thì ta được 1 công), v.v.

Quá luật có 39 điều, cũng chia làm 4 loại:

(1) Bất nhân 不 仁 (15 điều): nói những việc bất nhân như dùng độc dược hại người (10 quá); hại mạng người (100 quá); hại mạng chúng sinh thú cầm (10 quá); học bùa chú để hại người (10 quá); mưu hại người bị tử hình (mưu thành bị 100 quá, mưu bại bị 10 quá); nảy sinh lòng tà dâm (1 quá); nói lời độc ác đối với sư trưởng (10 quá), với người thiện (8 quá), với người bình thường (4 quá), với trẻ em hoặc kẻ dưới (1 quá), v.v.

(2) Bất thiện 不 善 (8 điều): như bài xích hủy hoại tượng thờ chư thiên tôn (20 quá), chân nhân (15 quá), thần quân (10 quá); tụng niệm kinh sót một chữ (1 quá), sót một câu (5 quá), đọc sai âm một chữ (1 quá); đọc tụng thác loạn làm mất ý nghĩa một câu kinh (5 quá); đọc tụng mà không chuyên tâm lòng còn lo nghĩ việc khác (5 quá); đọc kinh không theo nghi thức (5 quá); đọc kinh mà phát sinh sân nộ (10 quá), v.v.

(3) Bất nghĩa 不 義 (10 điều): như biết người hiền mà không tiến cử (1 quá), không bắt chước (1 quá); phản bội sư trưởng (50 quá); trộm cắp và dạy người trộm cắp (100 tiền ứng với 1 quá); mượn tiền không trả (100 tiền ứng với 1 quá); v.v.

(4) Bất quỹ 不 軌 (không noi theo phép tắc, 6 điều): như điều răn thực nhục (ăn thịt): cố ý sát sinh mà ăn (6 quá), mua thịt ăn (3 quá); ăn nhầm thức ăn có thịt (3 quá); ăn thịt vào ngày phải ăn chay (10 quá); ăn thịt xong vào chùa nói điều thiện (10 quá); và điều răn ẩm tửu (uống rượu): uống rượu cùng mưu việc ác (mỗi thăng rượu 6 quá); uống rượu với kẻ bất lương (mỗi thăng 2 quá); vô cố uống rượu với thường nhân (mỗi thăng 1 quá); uống rượu trợ dâm (mỗi thăng 10 quá); uống rượu đến say vào ngày ăn chay hoặc uống xong vào chùa nói điều thiện (5 quá), v.v.

Trên đây là nội dung sơ lược của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Qua đó ta có thể thấy những luật định bao quát 3 phương diện: tư tưởng (ý), lời nói (khẩu), và hành vi (thân). Trong lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách, Hựu Huyền Tử nói: «Minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, nhất nguyệt nhất tiểu tỉ, nhất niên nhất đại tỉ. Tự tri công quá đa quả, dữ thượng thiên chân tư khảo hạch chi số chiêu nhiên tương khế.[...] Y thử hành trì, viễn ác thiên thiện, thành vi chân giới, khứ tiên bất viễn hỹ.» 明 書 日 月, 自 記 功 過, 一 日 一 小 比, 一年 一 大 比. 自 知 功 過 多 寡,  與 上 天 真 司 考 核 之 數 昭 然 相 契. [...] 依 此 行 持, 遠 惡 遷 善, 誠 為 真 戒, 去 仙 不 遠 矣 (Viết rõ từng ngày từng tháng, tự ghi công và tội của mình, một tháng thì tỉ lệ nhỏ, một năm thì tỉ lệ lớn. Tự biết công và tội của mình nhiều hay ít, và số liệu ấy ăn khớp rõ ràng với số liệu mà vị thần trên trời tra xét. [...] Cứ theo cách này mà hành trì, xa điều ác gần điều thiện, thành tâm làm theo những giới cấm chân chính này, thì thành tiên không xa vậy).

Nhưng Công Quá Cách có nhiều chủng loại. Ta có thể kể thêm Thập Giới Công Quá Cách, tương truyền là do Lữ Động Tân trứ tác.

III. THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH

Léon Wieger [9] cho rằng Thập Giới Công Quá Cách 十 戒 功 過 格 xuất hiện cuối đời Đường, nhưng theo Khanh Hy Thái, Thập Giới Công Quá Cách hấp thu nội dung tu dưỡng của Lý học gia đời Tống và Minh, như vậy ắt xuất hiện rất trễ tuy nhiên chẳng rõ vào thời điểm nào.

Thiện thư này bảo: «Học Đạo nãi thân tâm tính mệnh chi sự.[...] Dĩ thập giới định công quá.» 學 道 乃 身 心 性 命 之
IV. DỊCH THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH [11]

1/ ĐỐI VỚI CHA MẸ [41 điều, 20 công - 21 quá].

CÔNG: Thương yêu hoà nhã với cha mẹ (mỗi ngày một công). Sớm tối hỏi han sức khoẻ (mỗi ngày một công). Khéo cư xử và lao động tốt để cha mẹ vui lòng (mỗi ngày một công). Tận tụy với cha mẹ (mỗi lần một công). Khi cha mẹ la rầy, khiêm cung lắng nghe, mà không cãi lại (1 công). Khuyên cha mẹ một điều ích lợi (3 công). Xoa dịu, an ủi cha mẹ (3 công). Chi tiêu rộng rãi cho cha mẹ (3 công). Dè dặt kín đáo khuyên cha mẹ sửa lỗi (10 công). Khuyên cha mẹ hành thiện (10 công). Thay mặt cha mẹ mà sửa chữa một lầm lỗi hoặc một món nợ (10 công). Yêu quí những gì cha mẹ yêu quí (một lần 10 công). Chăm sóc và canh chừng giấc ngủ khi cha mẹ bệnh (30 công). Chân thành chia sẻ sự khổ não của cha mẹ (50 công). Làm rạng rỡ danh tiếng cho cha mẹ (50 công). Chu đáo lo việc tang ma cha mẹ (50 công). Chịu đựng khi cha mẹ [vốn là người nóng nảy] buồn bực cáu giận (100 công). Hoán cải cha mẹ cải ác vi thiện (100 công). Không trì hoãn việc mai táng cha mẹ (100 công). Ấn định một khoản tiền dự trữ để cúng giỗ cha mẹ hằng năm (1000 công cho mỗi 100 đồng bỏ ra).

QUÁ: Khiến cha mẹ không có con cháu nối dõi tông đường bằng cách tự hủy hoại thân thể do trụy lạc hoặc bị hành hình do phạm tội (100 quá). Làm lợi cho vợ con nhưng gây tổn hại cho cha mẹ (100 quá). Khâm liệm cha mẹ vội vã qua loa (100 quá). Trì hoãn quá lâu việc mai táng cha mẹ (100 quá). Khi cha mẹ đau ốm, không quan tâm chăm sóc (50 quá). Biêu riếu tội lỗi cha mẹ (50 quá). Không cảnh báo cho cha mẹ thấy trước điều lầm lỗi (30 quá). Xúi dục cha mẹ làm điều quấy (20 quá). Nóng giận và ngược đãi cha mẹ (20 quá). Khinh bỉ bạc đãi người mà cha mẹ quý trọng (10 quá). Chán ghét ghê tởm cha mẹ già yếu tật nguyền (10 quá). Mắng cha mẹ người khác để rồi cha mẹ mình bị người ta mắng lại (10 quá). Không phân chia tài sản cho cha mẹ (10 quá). Tranh chấp tài sản với cha mẹ (10 quá). Trách móc cha mẹ (10 quá). Mặt sưng mày sỉa với cha mẹ (10 quá). Khiến cha mẹ đau khổ (10 quá). Khiến cha mẹ vất vả khó nhọc (10 quá). Đi xa, để cha mẹ già một mình ở nhà (10 quá). Thiếu sót với cha mẹ (mỗi lần 10 quá). Không kính trọng và không quan tâm cha mẹ (mỗi ngày một quá). Ăn uống không dành phần cho cha mẹ (mỗi lần một quá).

2/ ĐỐI VỚI ANH EM [24 điều, 10 công - 14 quá]

Chú ý: Cư xử tốt với anh cùng cha khác mẹ, mỗi công sẽ được nhân đôi. Cư xử tốt với anh họ, mỗi công được nhân ba.

CÔNG: Yêu thương và tận tụy với anh/em (1 công/1 người). Chân thành hòa hợp và cộng tác với anh/em (1 công/1 người). Khuyên anh/em làm điều thiện, ngăn cản anh/em làm điều ác (1 công). Không nghe lời vợ hay tôi tớ mà nghịch với anh/em (10 công). Không cãi cọ với anh/em về công việc hằng ngày (10 công). Không giành lấy riêng cho mình những tài sản chung trong nhà (10 công). Chịu phí tổn về tang ma/cưới hỏi của anh/em (50 công/1 người). Cưu mang anh/em bị sa sút túng bấn (50 công). Bằng cách nêu gương tốt và khuyên bảo, khiến cho anh/em trở nên tốt đẹp hơn (100 công).

QUÁ: Làm cho gia đình bất hòa, chia rẽ, kiện tụng giữa anh em (100 quá). Bạc đãi và xúc phạm em út (100 quá). Không cứu giúp anh/em lúc khốn khó (100 quá). Cản trở anh/em làm điều thiện, xúi giục làm điều ác (50 quá). Tranh chấp lợi lộc giữa anh em (10 quá). Nghe lời gièm pha của vợ hay tôi tớ mà chia rẽ anh em (10 quá). Hất hủi anh/em kém may mắn đến vay mượn (10 quá). Ganh tị với anh/em may mắn hơn mình (mỗi ngày 2 quá). Tỏ ra thói xấu với anh/em (1 quá). Không cho em những gì em cần (mỗi lần 1 quá). Lấy quá phần của mình lẽ ra được hưởng (giá trị cứ 100 quan thì tính 1 quá). Làm thinh khi thấy anh/em làm quấy (1 quá). Nói xấu về anh/em trước mặt người lạ (1 quá). Chú ý: Không đề cập chị em gái vì họ không ở lâu với gia đình. Các cô con gái được gả đi càng sớm càng tốt. Họ không có quyền thừa kế.12

3/ ĐỐI VỚI THÊ THIẾP 13 [15 điều, 6 công - 9 quá]

CÔNG: Chồng nhường nhịn, khiêm tốn đối với thê/thiếp (mỗi ngày 1 công). Cảnh báo cho họ biết những lỗi lầm (mỗi lần 1 công). Khéo xử để thiếp giữ phận thấp hơn thê (1 công). Cản trở vợ và con gái không cho đi rong chơi khỏi nhà (10 công). Khuyên bảo vợ trẻ biết tôn trọng cha mẹ chồng và sống hòa hợp với chị/em gái của chồng (50 công). Khuyên bảo vợ khéo cư xử (100 công).

QUÁ: Lúc nên danh phận và giàu có thì ruồng rẫy vợ (100 quá). Làm ngơ khi vợ thiếu sót bổn phận với cha mẹ chồng (100 quá). Coi trọng thiếp hơn thê (100 quá). Cho phép vợ này hà hiếp vợ kia (30 quá). Không nghe lời can gián đúng đắn của vợ (10 quá). Cho phép vợ đi rong chơi (10 quá). Để mặc thê thiếp chưởi nhau thô tục (5 quá). Để cho vợ kế hành hạ con của vợ quá cố (1 quá). Để cho thê thiếp bất hòa (mỗi ngày 1 quá).

4/ CHA VÀ CHÚ BÁC ĐỐI VỚI CON CHÁU [13 điều, 5 công - 8 quá].

CÔNG: Giúp con/cháu một ý kiến hay (mỗi lần 1 công). Ngăn cấm con/cháu làm quấy (mỗi lần 10 công). Ngăn cấm con/cháu trộm cắp (mỗi lần 30 công). Dạy con/cháu về đạo đức (mỗi lần 100 công).

QUÁ: Không dạy con/cháu biết bổn phận chủ yếu của chúng (100 quá). Cản trở sự học hành của chúng (50 quá). Xúi trẻ làm quấy (50 quá). Lợi dụng trẻ ngây thơ (30 quá). Dung túng con/cháu tập tành thói hư tật xấu (30 quá). Làm gương xấu cho chúng (10 quá). Con yêu con ghét (10 quá). Chưởi rủa đánh đập con cháu thay vì giáo dục chúng (2 quá).

5/ MÔN ĐỆ ĐỐI VỚI THẦY, BẰNG HỮU ĐỐI VỚI NHAU [17 điều, 10 công - 7 quá].

CÔNG: Tôn kính thầy và thực hành điều thầy dạy (mỗi ngày 1 công). Giao du với bạn tốt và duy trì sự kết giao này (mỗi ngày 1 công). Chia sẻ với bạn những gì mình có (giá trị cứ 100 quan tính 1 công). Gạt bỏ ngoài tai những xúi giục của bạn xấu (mỗi lần 1 công). Chia sẻ vui buồn với bạn (mỗi lần 1 công). Giữ lời hứa với nhau (mỗi lần 1 công). Dẫn dắt bạn về đường ngay lẽ phải (10 công). Khi trở nên giầu có không đoạn giao với bạn cũ thuở hàn vi (30 công). Thành tâm tưởng nhớ bạn quá cố (30 công). Trợ giúp bạn lúc bạn gặp nguy khó (100 công).

QUÁ: Từ chối giúp bạn khi mình có khả năng giúp được (50 quá). Từ chối giúp vợ con của bạn khi bạn qua đời hay đi xa (50 quá). Quên lãng thầy học, bạn quá cố, bạn sa cơ lỡ vận (50 quá). Vô cớ đoạn giao với bạn cũ (20 quá). Phê bình và chỉ trích thầy học về nhân cách và sự giảng huấn (10 quá). Yếu lòng nghe lời bạn xấu xúi dục làm quấy (3 quá). Nuốt lời hứa với bạn (1 quá).

6/ ĐỐI VỚI GIA NHÂN14 [16 điều, 8 công - 8 quá]

CÔNG: Chu cấp rộng rãi thực phẩm và y phục cần thiết cho họ (mỗi ngày 1 công). Động viên và an ủi họ trong công việc (mỗi lần 1 công). Tha thứ lỗi vặt của họ (mỗi lỗi 2 công). Chăm sóc họ lúc họ đau ốm (20 công). Tác thành cho tôi tớ kết hôn với nhau (20 công). Thuận cho tớ gái lấy chồng bên ngoài và cho của hồi môn (30 công). Mua trẻ nô lệ và trả nó về cha mẹ nó mà không đòi hỏi gì hết (cứ 100 quan giá mua tính 1 công). Giáo dục đạo đức cho tôi tớ (100 công).

QUÁ: Buộc tôi tớ phải sống độc thân [mà phục vụ chủ] (100 quá). Tra tấn làm què quặt tôi tớ (100 quá). Bán tớ gái cho kẻ muốn lợi dụng ả (100 quá). Thông dâm với tớ gái (20 quá). Thưởng phạt tôi tớ một cách bất công (20 quá). Vô cớ quát mắng tôi tớ (3 quá). Cư xử tàn nhẫn với tôi tớ (5 quá). Không chu cấp tôi tớ nhu yếu phẩm (mỗi ngày 1 quá).

7/ BÁC ÁI TỪ THIỆN [75 điều, 41 công - 34 quá]

CÔNG: Thu nhận người không nơi nương tựa (mỗi ngày 1 công). Cung cấp thực phẩm cho kẻ bị đói kém (1 công). Cho 10 người khát uống nước (1 công). Cấp y phục cho người thiếu mặc (giá trị y phục cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn đèn đóm (1 công). Cho mượn ô đi mưa/nắng (1 công). Phát thuốc miễn phí (1 công). Đưa giúp một lá thư giùm cho ai đến tay người nhận mà không đọc lén (1 công). Bố thí cho người nghèo (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp kẻ tha hương [nghèo túng] được hồi hương (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Giúp vợ chồng người ta [vì hoàn cảnh phải xa nhau] được đoàn tụ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Mùa đông cho kẻ hành khất bát canh nóng (1 công). Giúp người trong việc tang ma, cưới hỏi (cứ 100 quan tính 1 công). Đóng góp tiền để tạo tác hoặc bảo trì cầu cống, đường sá, đê điều, giếng nước (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp khâm liệm và mai táng xác chết [vô thừa nhận] (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Cho người bát cháo trong muà đói kém hoặc lúc thời giá đắt đỏ [kinh tế khó khăn] (2 công). Cứu giúp người bị bệnh dịch (2 công). Giúp chuộc tội cho kẻ bị án (phí tổn cứ 100 quan tính 2 công). Giúp người lang thang một chỗ qua đêm (1 đêm 2 công). Khuyên người điều hay lẽ phải (3 công). Chữa lành một vết thương nhỏ cho ai (3 công). Chôn cất xương vô chủ (10 công). Bảo vệ sức khỏe / sinh mệnh người khác (10 công). Giúp người khác trong công việc (10 công). Giúp người khỏi bị sẩy thai (20 công). Cứu người khỏi tội hình (20 công). Chữa lành một bệnh nặng (30 công). Bố thí quan tài (30 công). Cho phép chôn cất người nghèo trong phạm vi đất đai của mình (30 công). Chẩn tế cô nhi và quả phụ (30 công). Đem lại công bằng cho người bị áp bức (từ 30 đến 100 công tùy trường hợp). Cứu tế người bị đại nạn (50 công). Giúp một người nghèo khổ (50 công). Tổ chức tang ma cho người nghèo (50 công). Cứu trẻ gái khỏi bị trấn nước 15 (50 công). Cứu sống ai (100 công). Khi không có con nối dõi thì nhận một con nuôi (100 công). Giúp người nghèo một vốn liếng cần thiết để kết hôn (100 công). Thu nhận trẻ bị bỏ rơi (100 công). Giúp vợ chồng con cái người khác đang ly tán được đoàn tụ (100 công). Giúp người nghèo có một nguồn lợi đáng kể (100 công).

QUÁ: Giết người (100 quá). Hại người cho đến tàn mạt lụn bại (100 quá). Trấn nước bé gái (100 quá). Phá gia cang người khác (100 quá). Làm cho người khác hư hỏng sa đọa (100 quá). Xâm phạm nghĩa trang của gia tộc người khác (100 quá). Phá hoại mộ phần người ta (100 quá). Cản trở, phá hoại hôn nhân người khác (100 quá). Pha chế độc dược (100 quá). Chỉ vẽ phương thuốc cho ai khiến họ phải tốn kém nhưng chẳng trị được hết bệnh (100 quá). Không cứu người khỏi cơn nguy khi mình có thể giúp (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc trấn nước bé gái (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc phá thai (50 quá). Do oán hận mà hãm hại gia đình người ta (50 quá). Quăng ném bừa bãi hài cốt đã bị khai quật ra ngoài đồng ruộng (50 quá). San bằng phần mộ người khác trong vùng đất của mình (50 quá). Đạp dẫm lên lúa người khác trồng (30 quá). Làm hư hoại cầu, phà, giếng nước công cộng (30 quá). Trừng phạt lầm người (30 quá). Có thể giúp mà không chịu giúp cô nhi quả phụ lúc hoạn nạn (30 quá). Có thể làm được mà không chịu minh oan cho kẻ bị kết án sai (30 quá). Làm thầy thuốc mà chăm sóc bệnh nhân cẩu thả (20 quá). Không giúp kẻ bất hạnh (20 quá). Có thể làm được mà không chịu chỉ dạy cho người điều hay lẽ phải (10 quá). Xúc phạm người già, người tật nguyền, trẻ em (10 quá). Hớn hở mưu lợi từ sự bất hạnh của người khác (10 quá). Suốt một ngày làm cản trở giao thông tại đường nhỏ hẹp, bến phà, cầu kiều (10 quá). Quở trách người vô tội (3 quá). Đọc lén thư người khác (3 quá). Có trách nhiệm quản lý nhưng quản lý tồi nhân viên (3 quá). Uy hiếp, khủng bố người khác (3 quá). Cự tuyệt người nghèo đến xin giúp đỡ (2 quá). Gọi đích danh tên riêng của ai (2 quá). [16]

8/ THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT [16 điều, 8 công - 8 quá]

CÔNG: Cứu một con vật vô dụng [như già yếu, bị giết](1 công). Cứu một côn trùng (1 công). Nuôi nấng chu đáo gia súc (mỗi ngày 1 công). Chôn xác một con vật bị chết (1 công). Vuốt ve xoa dịu một con vật đang bị đau đớn (1 công). Mua và phóng sinh các con vật nhỏ bị bắt giữ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Không ăn thịt trong một năm (5 công). Cứu một con vật có ích (10 công).

QUÁ: Xúi giết hoặc ngăn cản phóng sinh một con vật (100 quá). Sát sinh một con thú lớn để ăn thịt (100 quá). Sát sinh một con thú có ích (20 quá). Sát sinh một con thú vô dụng [như già yếu] (3 quá). Sát sinh một côn trùng (1 quá). Xông khói hủy hoại tổ hang thú vật hay côn trùng (3 quá). Nhốt giữ chim trong lồng (1 quá). Không thương xót một con vật bị đau đớn (1 quá).

9/ TỔNG QUÁT VIỆC THIỆN VÀ ÁC [40 điều, 12 công - 28 quá]

CÔNG: Khuyên người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyến khích và giúp người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyên ai đóng góp tiền làm việc thiện (cứ 300 quan tính 1 công). In ấn và truyền bá sách khuyến thiện (phí tổn in ấn cứ 100 quan tính 1 công). Tặng ai một bản kinh sách khuyến thiện (10 công). Trong công việc, làm tốt nhiệm vụ được giao (10 công). Khuyên một gia đình hướng thiện (30 công). Công bố người tốt việc tốt (30 công). Xây dựng trường học cho bá tính (30 công /1 học sinh học ở đó). Giúp một người cải tà quy chính (50 công). Đề xướng một công trình công ích (100 công). Truyền bá tiểu sử những vị đạo đức, anh hùng (1000 công). Hoà giải một vụ xung đột, tranh chấp (3 công). Hoá giải một mối hận thù (5 công). Dàn xếp một vụ kiện tụng (5 công). Đốt bỏ sách đồi trụy (10 công). Cản ngăn sự đàm luận thô tục về phụ nữ (10 công). Lên án việc trấn nước trẻ gái (30 công). Cảnh báo một tội ác sắp xảy ra (30 công). Thuyết giảng về sự hòa thuận (50 công). Giảng về đạo hiếu (100 công).

QUÁ: Ngăn cản sự khuyến thiện (100 quá). Sàm báng người thiện lương (50 quá). Không hành thiện (5 quá). Khi có khả năng mà không động viên giúp đỡ ai cả (5 quá). Yểm tài người có công (5 quá). Là nguyên nhân khiến người khác tiếp tục lún sâu vào tội ác (5 quá). Tán tụng người quấy, khen kẻ tà đạo (5 quá). Dạy người làm ác (mỗi việc ác 1 quá, người xúi giục bị 2 quá). Xúi giục và tiếp tay người làm ác (mỗi người 1 quá). Gieo bất hòa, xúi giục kiện tụng (100 quá). Đỡ đầu trẻ lang thang để xúi chúng làm ác (100 quá). Khắc in và truyền bá sách đồi trụy (50 quá). Viết hồ sơ giấy tờ cho một vụ kiện càn quấy (50 quá). Viết giấy xác nhận ly hôn (50 quá). Tiến cử, giới thiệu kẻ vô đạo đức (30 quá). Bày vẽ cho người lề thói đồi bại (30 quá). Giao du với kẻ ác (mỗi lần 10 quá). Không an ủi kẻ đau khổ (1 quá). Không soi sáng cho kẻ u mê gây ác (1 quá).

10/ TƯ TƯỞNG [12 điều, 6 công - 6 quá]

CÔNG: Quét sạch tư tưởng hắc ám ngay khi nó mới nảy sinh trong đầu (1 công). Luôn ăn ở đàng hoàng ngay cả khi không có mặt ai (mỗi ngày 1 công). Không làm những gì có thể kích thích tư tưởng hắc ám (mỗi ngày 1 công). Suy gẫm điều thiện/ác xảy ra cho người thể như cho mình (10 công). Trọn một tháng làm lành tránh ác (100 công cộng thêm số công của các việc thiện đã làm, coi như thưởng cho sự bền bĩ).

QUÁ: Nuôi dưỡng trong đầu những tư tưởng hắc ám suốt một ngày (30 quá). Muốn điều xấu xảy ra cho người (10 quá). Đắc ý hớn hở trước lỗi lầm kẻ khác (10 quá). Không tin vào đức hạnh của người khác (2 quá). Khoái trá nghĩ đi nghĩ lại một tư tưởng bẩn thỉu (mỗi lần 1 quá). Uất hận, hoặc có tư tưởng xấu nói chung (mỗi lần 1 quá). Lơ đãng khi đọc kinh hoặc cầu nguyện (mỗi lần 1 quá).

11/ HÀNH VI [19 điều, 10 công - 9 quá]

CÔNG: Hoàn thành nhiệm vụ trong ngày (1 công). Hành động vì bổn phận, không vì cầu khen thưởng (2 công). Tự sửa được lỗi lầm khi được cảnh cáo (3 công). Noi gương tốt của ai (3 công). Không tìm cầu ân huệ của kẻ giàu sang quyền thế (5 công). Kiêng tránh những tham vọng ngông cuồng (20 công). Nhượng bộ người đức hạnh (20 công). Bền bĩ kiên trì hành thiện cho đến lúc đạt kết quả tốt đẹp (20 công). Chịu thiệt phần mình mà lợi cho người (50 công). Sống hòa thuận với người khác, không chấp nê những xúc phạm vụn vặt (100 công).

QUÁ: Mưu hại người (100 quá). Làm hại người để lợi về mình (50 quá). Sàm báng người đạo cao đức trọng (50 quá). Giành công về mình những điều thiện không do mình làm (30 quá). Núp bóng việc công để trục lợi riêng [như lợi dụng lạc quyên để bỏ túi riêng] (10 quá). Ngoan cố làm ác (3 quá). Cản trở không cho một việc thiện được thành tựu (1 quá). Hành động ích kỷ (1 quá). Từ chối không tán thành một việc đáng tưởng thưởng (1 quá).

12/ NGÔN NGỮ [18 điều, 5 công - 13 quá]

CÔNG: Nói năng thận trọng, dè dặt, trung thực (mỗi ngày 1 công). Nói lời lành và lời ấy giúp ích cho ai (10 công). Khuyến khích việc lành, bài bác việc ác, bằng cách giảng thuyết về lẽ thiện ác báo ứng, luật nhân quả (10 công). Chứng minh sự vô tội của một bị cáo (50 công). Giảng thuyết sách khuyến thiện (100 công).

QUÁ: Làm báo cáo láo, phúc trình sai lạc (100 quá). Nói báng bổ thánh thần (50 quá). Tiết lộ tật kín của ai (50 quá). Châm biếm về đức hạnh phụ nữ (50 quá). Gieo rắc bất hòa (30 quá). Nói lừa phỉnh ai (10 quá). Báng bổ việc thiện, đạo đức (10 quá). Đặt vè châm biếm ai (5 quá). Diễu cợt dáng vẻ bộ điệu của ai (3 quá). Thích nói về khuyết điểm của người khác (1 quá). Nói dối (1 quá). Nói chơi, nói tục (1 quá). Ba hoa lắm lời không thôi (1 quá).

13/ ĐỐI VỚI THÁNH THẦN [16 điều, 4 công - 12 quá]

CÔNG: Cúc cung phụng thờ thiên thần, địa thần, tổ tiên nơi từ đường (1 công). Lấy giấy có chữ lẫn trong đống rác mà đốt đi 17(1 công). Chi phí vào nơi đền miếu thờ phụng (cứ 100 quan tính 1 công). Khắc in và truyền bá lời dạy của thánh hiền (100 công).

QUÁ: Phê bình thánh hiền và chữ nghĩa của thánh hiền (100 quá). Phá hoại miếu mạo, đền chùa (50 quá). Hủy hoại kinh sách (20 quá). Nhục mạ thánh thần, tổ tiên (20 quá). Trích dẫn kinh sách để đùa cợt mua vui (10 quá). Gọi tên thần thánh để thề thốt gian dối (10 quá). Day về hướng Bắc [có sao Bắc Đẩu, nơi ngụ của chư thần] mà chưởi rủa, khạc nhổ, tiểu tiện (3 quá). Làm dơ bẩn giấy có chữ viết/in (3 quá). Làm dơ bẩn bếp lò và giếng nước [là nơi của Táo quân và chư thần] (1 quá). Tay bẩn chạm vào kinh sách (1 quá). Đêm tối để cho thân thể lõa lồ 18(1 quá).

14/ DỤC VỌNG VÀ TỰ CHỦ [15 điều, 8 công - 7 quá]

CÔNG: Lịch sự, nghiêm trang (mỗi ngày 1 công). Không lì lợm, ngoan cố (1 công). Chịu đựng sự mâu thuẫn (1 công). Không nổi giận (3 công). Kiên trì, chịu khó (3 công). Tha thứ kẻ xúc phạm mình (3 công). Nhẫn nhịn sự công kích/chống đối (5 công). Cam chịu nghịch cảnh, không oán trách trời và người (10 công).

QUÁ: Cư xử thô lỗ cục súc (100 quá). Hay gây hấn với mọi người (30 quá). Phản kháng, cãi lại (10 quá). Càu nhàu phàn nàn khi có lỗi hay thất vọng (5 quá). Cáu giận, quát tháo (5 quá). Thích lời nịnh bợ (1 quá). Khi say rượu chưởi bới/đánh đập người khác (1 quá).

15/ Y PHỤC VÀ ẨM THỰC [7 điều, 3 công - 4 quá]

CÔNG: Tri túc (mỗi ngày 1 công). Gom nhặt ngũ cốc rơi rớt trên mặt đất (1 công). Ăn không kén chọn/đòi hỏi thức ăn (1 công).

QUÁ: Mong muốn quá phận (10 quá). Mặc y phục vượt quá hoàn cảnh của mình (5 quá). Lãng phí ngũ cốc (1 quá). Hoang phí của cải, vật chất (1 quá).

16/ TÀI SẢN VÀ THƯƠNG NGHIỆP [31 điều, 14 công - 17 quá]

CÔNG: Trung thực trong kinh doanh (mỗi ngày 1 công). Chia lời lãi chính xác cho người hùn hạp kinh doanh (1 công). Trả lương đúng kỳ hạn cho nhân viên (1 công). Cho người hàng xóm mượn đồ nghề khi họ cần đến (1 công). Thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 1 công). Xỏ xâu các quan tiền và đếm đúng (cứ 100 quan tính 1 công). Nộp thuế đủ và đúng hạn (cứ 100 quan tính 1 công). Không tăng giá lúa gạo / lương thực trong năm đói kém (cứ 100 quan tính 1 công). Bố thí xứng đáng cho người nghèo đang xin mình (cứ 100 quan tính 1 công). Nhận phải tiền giả bạc giả, thà chịu thiệt thòi phần mình chứ không chuyển sang người khác (cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn tiền không lấy lãi (cứ 200 quan tính 1 công). Cân đo đúng (10 công). Không truy bức một con nợ đang túng quẫn (10 công). Giúp một gia đình mắc nợ được phục hồi cơ nghiệp (100 công).

QUÁ: Làm tiền giả bạc giả (100 quá). Tiêu tán di sản tổ tiên (100 quá). Truy bức một con nợ đang túng quẫn (100 quá). Chiếm đất đai người khác (50 quá). Xúi giục người khác cờ bạc (10 quá). Cờ bạc bịp (cứ 100 quan ăn gian tính 1 quá). Cưỡng đoạt tiền của người khác (cứ 100 quan tính 10 quá). Trục lợi từ cảnh khốn cùng của người khác (cứ 100 quan tiền lời tính 10 quá). Trong năm đói kém, bán lúa gạo cứa cổ thiên hạ (mỗi ngày 1 quá). Trong thanh toán, tính trội số tiền mà người ta phải trả (cứ 100 quan tính trội tính 5 quá). Không thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 5 quá). Uy hiếp người ta phải bán rẻ cho mình một tài sản (cứ 100 quan tiền lời tính 5 quá). Chi trả cho người khác tiền giả, ngân phiếu giả, bạc giả (cứ 100 quan tính 3 quá). Cân đo dư khi thu vào, cân đo thiếu lúc bán ra (cứ 100 quan lời bất chính tính 1 quá). Trộm cắp hoặc gây thiệt hại cho người (cứ 100 quan tính 1 quá). Dùng sái tài năng trời phú cho mình [dùng tài năng vào việc bất chính] (mỗi lần 1 quá). Lén chiếm đoạt tài sản của người dù là cây kim cọng rạ (1 quá).

17/ GIỚI DÂM [38 điều, 16 công, - 22 quá]

CÔNG: Trải qua một ngày một đêm không tà ý (1 công). Không đọc dâm thư, không xem hình ảnh đồi trụy (1 công). Tránh né một cuộc gặp gỡ nguy hiểm [dẫn đến tà dâm] (1 công). Không kết giao kẻ dâm ác (1 công). Ngăn cản người khác thốt lời tục tĩu (3 công). Mạnh dạn nói về hậu quả của hạnh kiểm xấu, v.v. (mỗi lần 1 công). Không nhìn chòng chọc vào người đẹp (5 công). Xua đuổi kẻ xúi mình làm quấy (5 công). Ở nhà cư xử trang nghiêm với vợ (10 công). Cưỡng lại sự sa ngã cám dỗ (mỗi lần 10 công). Tôn trọng tớ gái (100 công). Tôn trọng một phụ nữ, không lợi dụng cô ta trong hoàn cảnh có thể lợi dụng được (100 công). Hủy bản khắc gỗ dùng in sách/ảnh đồi trụy (300 công). Viết bài đả kích sự dâm dục (300 công). Dìu dắt một thiếu nữ bỏ nhà đi hoang trở về với gia đình (300 công). Suốt đời không ngoại tình (1000 công).

QUÁ: Sáng tác dâm thư, vẽ hình tục tĩu (vô số quá). Do thông dâm mà ám sát/đầu độc một phụ nữ (1000 quá). Do phóng đãng mà phá nát gia cang (1000 quá). Xúi giục người phá thai (1000 quá). Thông dâm với tớ gái, gái góa, nữ tu (300 quá). Thông dâm với đàn bà đã từng trung trinh với chồng (100 quá). Thông dâm với phụ nữ mất hạnh phúc [chăn gối] trong hôn nhân (50 quá). Cưỡng dâm tớ gái, vợ của tớ trai, vú em (100 quá). Qua đêm với gái điếm (10 quá). Ăn chơi sa đọa làm hủy hoại thân thể [hoặc mắc bệnh phong tình] đến nỗi cha mẹ không có cháu nối dõi (100 quá). Chứa gái điếm, dắt mối cho kẻ kê gian [19], công khai bảo bọc gái điếm hay gái bao (10 quá). Trong danh sách các tuồng hí kịch, cố ý lựa chọn các vở tuồng dâm đãng (10 quá). Ngắm nghía phụ nữ một cách đầy tà ý (5 quá). Bỡn cợt trơ trẽn về tính dục (5 quá). Tại nhà, quá phóng túng suồng sã với vợ (5 quá). Không kiêng cữ chuyện chăn gối vào các ngày giỗ cha mẹ (3 quá). Sở hữu và gìn giữ dâm thư, hình ảnh đồi trụy (mỗi ngày 1 quá). Đặt thơ vè tục tĩu (1 quá). Trong mùa nóng nực để thân thể lõa lồ cho thoải mái (1 quá). Nói lời tục tĩu (1 quá). Trên phố không nhường bước phụ nữ (mỗi lần 1 quá). Chưởi tục tớ gái (mỗi lần 1 quá).

TẠM KẾT

Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách là ba thiện thư tối cổ và tiêu biểu của Đạo giáo. Ta nhận ra sự dung hợp luân lý tam giáo với lý luận của Đạo giáo về sinh mệnh (tu luyện thành tiên).

Công Quá Cách quá chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (công coi như điểm dương, quá coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng hay hình phạt vô hình nào đó. Người tuân thủ Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách dễ có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập 百福 駢 臻 千 祥 雲 集 (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về).

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện/ ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người. Ở khía cạnh này, Công Quá Cách đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng những trường hợp ấy vẫn chưa được kể ra đầy đủ so với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng.

CHÚ THÍCH

[1] Phần này chủ yếu dựa vào Khanh Hy Thái 卿 希 泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中 國 道 教, Thượng Hải, 1996, quyển 2, trang 356-358, và Lý Cương 李 剛, Đạo Giáo Sinh Mệnh Luân Lyù 道 教 生 命 倫 理, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 158-164.

[2] Đạo Cao Đài cũng có cách ghi tương tự, gọi là Vô Ngã Kiểm 無 我 檢, tự kiểm mà tu dưỡng để tiến tới cảnh giới thuần chân vô ngã 純 真 無 我.

[3] Thuộc Đạo Tạng 道 藏 - Động Chân 洞 真bộ, Giới Luật 戒 律loại.

[4] Tử phủ 紫 府: cung trời (heaven), cung tiên (the palace of the genii). Mathews' Chinese-English Dictionary, Harvard University Press, 1971, mục từ 6954.

[5] Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘 呂 傳 道 集 do Lữ Động Tân 呂 洞 賓ghi chép lời của Chung Ly Quyền 鐘 離 權truyền đạo cho mình dưới hình thức vấn đáp. Sách xuất hiện cuối đời Đường, gồm 18 luận đề, là một cổ thư về luyện đan hết sức quan trọng.

[6] Tam đảo (hoặc Tam Tiên Đảo三 仙 島 hay Tam Hồ 三 壺) là ba đảo tiên ở Bột Hải 渤 海 (theo truyền thuyết), gồm Bồng Lai 蓬 萊, Phương Trượng 方 丈 và Doanh Châu 瀛 洲. Xưa kia Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 nghe lời mê hoặc của các phương sĩ như Từ Phất 徐 芾, Lô Sinh 盧 生, Hàn Chúng 韓 眾 và Hầu Công 侯 公 v.v , đã hoài công sai họ và biết bao đồng nam đồng nữ cùng hàng nghìn người trai giới đem lễ vật vượt trùng dương tìm Bồng Lai Phương Trượng mà xin thần tiên thuốc trường sinh bất tử.

[7] Ngô Phong 吳 楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中 華 道 學 通 典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 515 (Chú giải Thái Bình Kinh 太 平 經).

[8] Quan 鰥: kẻ góa vợ hoặc không vợ; quả 寡: kẻ góa chồng; cô 孤: trẻ mồ côi; độc 獨: người không con.

[9] Léon Wieger S.J., Histoire des Croyances religieuses et des Opinions philosophiques en Chine, Hien-hien 獻 縣 (Hiến Huyện), 1927, tr. 579 (L'index des mérites et des démérites). Xem bản dịch phía sau.

[10] Lão Tử nói: «Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín» 信 言 不 美 美 言 不 信 (Lời đáng tin thì không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không đáng tin), Đạo Đức Kinh 道 德 經, chương 81. Khổng Tử nói: «Xảo ngôn lệnh sắc tiển hỹ nhân» 巧 言 令 色 鮮 矣 仁 (Kẻ nào lời nói hoa mỹ và bề ngoài kiểu cách ắt kém lòng nhân), Luận Ngữ 論 語, Học Nhi 學 而.

[11] Dịch theo bản Pháp văn của Léon Wieger, Sđd., tr. 579.

[12] Bản Công Quá Cách này vẫn không thoát khỏi quan niệm trọng nam khinh nữ cố hữu của Trung Quốc.

[13] Đây là bối cảnh xã hội Trung Quốc thời xưa theo chế độ đa thê.

[14] Trong xã hội Trung Quốc ngày xưa, người ta mua gia nhân tôi tớ (từ những gia đình nghèo) và thường buộc họ phải sống độc thân mà phục vụ chủ. Công Quá Cách khuyên chủ nhân phải cho tôi tớ sự tự do kết hôn, giúp họ có hạnh phúc riêng tư, chu cấp tớ gái (cho của hồi môn) khi lấy chồng. Đây là tư tưởng tiến bộ của Công Quá Cách, giải thoát cho gia nhân kiếp tôi đòi.

[15] Thói trọng nam khinh nữ khiến nhiều kẻ nhấn nước giết trẻ gái là con mình.

[16]  Người Trung Quốc xưng hô bằng họ, gọi tên là khinh bỉ.

[17] Ý nói văn tự là phát minh tuyệt diệu của thánh hiền, truyền cho con người tri thức, sự thông minh, và đạo lý; xúc phạm văn tự (ném giấy có chữ vào đống rác hay đi vệ sinh) là có lỗi.

[18] Ý nói nơi nào dù nhà tối cũng có chư thần, để thân thể lõa lồ là xúc phạm thần linh.

[19] «Servir de proxénète à une prostituée, à un sodomite.» Kinh mà ghi rõ là sodomite kể cũng lạ.

(Lê Anh Minh khảo & dịch)
I. TỔNG QUÁT

Công Quá Cách bắt nguồn từ đời Hán. Trong Thái Bình Kinh đời Đông Hán có thuật ngữ «Thiên khoán» 天 券 , coi như đồng nghĩa với «Thiên cách» 天 格, tức là «Thiên chi cách pháp» 天 之  格  法 . Trong Hán Dịch 漢 易 có cách xem ngày tốt xấu theo bát quái do Mạnh Khang 孟 康 giảng, và thuật ngữ Thiên khoán chịu ảnh hưởng của cách xem ngày này nhưng các đạo sĩ đã cải biến ý nghĩa mà thành cách ghi công và tội mà mỗi cá nhân đã làm hàng ngày. Vậy Công Quá Cách là một dạng bảng tự kiểm hàng ngày. [2] Thiện ngôn thiện hành gọi là công và được ghi vào công cách 功格 ; ác ngôn ác hành gọi là quá và được ghi vào quá cách 過 格 . Lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách 太 微 仙 君 功 過 格 [3] viết: «Tu Chân chi sĩ, minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, tự tri công quá đa quả» 修 真 之 士 , 明 書 日 月 , 自 記 功 過 , 自 知 功 過 多 寡 (Người tu chân mỗi ngày mỗi tháng phải ghi rõ công và tội của mình để tự biết công và tội ấy nhiều hay ít). Cũng theo lời tựa này, đời Kim 金 (1115-1234) năm Đại Định 大 定 Tân Mão 辛卯 (1171) (triều vua Thế Tông 世 宗), một đạo sĩ tên là Hựu Huyền Tử 又 玄 子 đã mộng du tử phủ [4] 紫 府, triều lễ Thái Vi Tiên Quân và nhận lĩnh yếu chỉ Công Quá Cách; khi tỉnh mộng, chấp bút viết thành sách này.

Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘 呂 傳 道 集, [5] chương 18 - Luận Chứng Nghiệm 論 證 驗, viết: «Ư tử phủ triều kiến Thái Vi Tiên Quân, khế khám hương nguyên danh tính, hiệu lượng công hành đẳng thù, nhi ư Tam Đảo an cư, nãi viết chân nhân tiên tử" 於 紫 府 朝 見 太 微 仙 君, 契 勘 鄉 原 名 姓, 校 量 功 行 等 殊, 而 於 三 島 安 居, 乃 曰 真 人 仙 子 (Nơi cung tiên triều kiến Thái Vi Tiên Quân để được khám xét tên và nguyên quán có phù hợp chăng, rồi được xét công trạng đã làm vân vân, kế đến là an cư nơi ba đảo tiên, bấy giờ được gọi là thần tiên). [6]

Các học giả Nhật Bản, như Tửu Tỉnh Trung Phu 酒 井 忠 夫, Cát Cương Nghĩa Phong 吉 剛 義 豐, Thu Nguyệt Quan Ánh 秋 月 觀 映, cho rằng Thái Vi Tiên Chân Công Quá Cách có liên quan với Tịnh Minh Đạo 淨 明 道 vì giáo phái này yêu cầu đệ tử phải có cuốn sổ nhỏ, ghi chép những việc tội phước mỗi ngày để phản tỉnh mà tu dưỡng. Kinh Thái Thượng Linh Bảo Tịnh Minh Phi Tiên Độ Nhân Kinh Pháp 太 上 靈 寶 淨 明 飛 仙 度 人 經 法 của Tịnh Minh Đạo đời Nguyên dạy về Thập Giới 十 戒, thì giới thứ 3 yêu cầu mỗi người học đạo phải có một quyển nhật ký, gọi là nhật lục: «Nhật lục giả, sở dĩ tu kiểm thiện ác chi xứ» 日 錄 者 所 以 修 檢 善 惡 之 處 (Nhật lục là nơi tu dưỡng và kiểm điểm việc thiện ác của mình). Nó là «bất giáo chi sư dã, bất thuyết chi hữu dã, bất chiếu chi quân phụ, bất ước chi pháp độ» 不 教 之 師 也, 不 說 之 友 也, 不 詔 師 父, 不 約 之 法 度 (Người thầy không dạy, là người bạn không nói, là vua và cha không ra lệnh, là pháp độ không ấn định).

Nhưng cách tự ghi công và tội mà mình đã làm hàng ngày cũng rất phổ thông, đâu phải chỉ Tịnh Minh Đạo mới có. Cuối đời Đường đã có một bản Công Quá Cách khác gọi là Lữ Động Tân Thập Giới Công Quá Cách 呂 洞 賓十 誡 功 過 格. Lại có quyển Cảnh Thế Công Quá Cách 警 世 功 過 格 nữa. Như vậy Công Quá Cách có rất nhiều chủng loại. Phép tự kiểm bằng cách ghi ra sổ hoặc dùng hạt đậu (đậu vàng hoặc đỏ ghi việc thiện, đậu đen ghi việc ác) cũng là tập quán của Tống Nho. Tương truyền Phạm Trọng Yêm 范 仲 淹 (989-1052) và Tô Tuân 蘇 洵 (1009-1066) luôn có một cuốn công quá cách theo bên mình.

Chủ đề chính của Công Quá Cách vẫn là thiện ác báo ứng, một quan niệm hình thành vào thời Tiên Tần. Dịch Kinh, Văn ngôn 文 言 ở quẻ Khôn 坤, nói: «Tích thiện chi gia, tất hữu dư khánh; tích bất thiện chi gia, tất hữu dư ương» 積 善 之 家 , 必 有 餘 慶 ; 積 不 善 之 家 , 必 有 餘 殃 (Nhà nào tích thiện thì ắt có dư điều tốt lành; nhà nào tích ác thì ắt có dư tai ương). Thái Bình Kinh 太 平 經, thiên Đại Công Ích Niên Thư Xuất Tuế Nguyệt Giới 大 功 益 年 書 出 歲 月 戒, nói: «Quá vô đại tiểu, Thiên giai tri chi, bạ sớ thiện ác chi tịch, tuế nhật nguyệt câu hiệu, tiền hậu trừ toán giảm niên. Kỳ ác bất chỉ, tiện kiến quỷ môn» 過 無 大 小, 天 皆 知 之, 薄 疏 善 惡 之 籍, 歲 日 月 拘 校, 前 後 除 算 減 年. 其 惡 不 止, 便 見 鬼 門 (Tội lỗi chớ kể lớn nhỏ, Trời đều biết cả và ghi chép vào sổ thiện ác, vào ngày [cuối] tháng [8] mỗi năm đều có sửa đổi chỉnh lý, [xem] trước sau [để] trừ bớt tuổi thọ. Nếu không dừng tội ác, kẻ gây ác phải vào cửa quỷ). [7] Tuy nhiên trong các chủng loại Công Quá Cách, việc thiện được tính theo đơn vị là công 功 (như cứu sống một người trọng bệnh thì tính là 10 công, chẩn tế những kẻ quan quả cô độc [8] một trăm quan tiền thì tính là một công, v.v.), việc ác được tính theo đơn vị là quá 過 (như hại tính mạng người khác thì tính là 100 quá, hại sinh mạng mỗi con chim muông cầm thú thì tính là 10 quá, v.v.). Công và quá còn nhân lên với số ngày và số đối tượng liên đới (người / vật) như tạo thuyền bè và bắc cầu giúp người qua sông miễn phí thì phí tổn cứ 100 quan tiền là một công và mỗi người lao động một ngày được 10 công.

II. THÁI VI TIÊN QUÂN CÔNG QUÁ CÁCH

Nội dung cơ bản của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách 太 微 仙 君 功 過 格 gồm hai loại chính: Công Cách 功 格 (ghi điều thiện) và Quá Luật 過 律 (ghi điều ác).

Công cách có 36 điều, chia làm 4 loại:

(1) Cứu Tế 救 濟 (12 điều): nói về cứu bệnh nhân bằng y liệu châm cứu, giúp người khốn khó hoạn nạn bằng tài vật, tạo cầu sửa đường, chôn cất xác vô thừa nhận. Thí dụ, dùng thuốc và châm cứu trị người trọng bệnh (10 công); cứu người khỏi tội tử hình (100 công); chẩn tế những người quan quả cô độc (1 công cho mỗi 100 quan tiền); giúp người đói khát một miếng ăn miếng uống (1 công); giúp người lỡ bước một chỗ ngủ ấm áp trong đêm giá rét (1 công); chôn cất xác vô thừa nhận (50 công), v.v.

(2) Giáo điển 教 典 (7 điều): nói về truyền thụ kinh sách và pháp tu. Thí dụ, tự chú soạn kinh sách hay phép tắc cứu người là 30 công, v.v.

(3) Phần tu 焚 修 (việc hương khói và tu dưỡng, 5 điều): nói về việc kiến tạo miếu mạo, tượng thờ, các vật cúng dường. Thí dụ, tu bổ tượng thờ, điện thờ, cúng dường đồ khí mãnh, rèm trướng, bàn ghế và những vật dụng khác (1 công cho mỗi phí tổn 100 quan tiền); sớm chiều thắp nhang cầu an cho đất nước và bá tánh (mỗi lần 2 công) và cầu an cho mình (mỗi lần 1 công); vì dân vì nước vì tổ tiên quá vãng vì cô hồn vô chủ mà tụng kinh (một biến kinh lớn là 6 công, một biến kinh nhỏ là ba công), v.v.

(4) Dụng sự 用 事 (12 điều): nói về các loại việc thiện. Thí dụ, giảng dạy kinh sách khuyến thiện (cho mỗi 10 người thì được 1 công); lấy văn chương thi từ mà khuyến thiện (mỗi bài là 1 công); tiến cử người hiền tài đạo đức (tiến cử 1 người thì được 10 công); tán dương việc thiện của người (mỗi việc 1 công); ngăn chận việc ác của người (mỗi việc 1 công); khuyên người chớ bất liêm, bất hiếu, bất trinh, bất lương, bất nghĩa, bất thiện, bất từ, bất nhân (mỗi người hồi tâm tùng thiện thì ta được 1 công), v.v.

Quá luật có 39 điều, cũng chia làm 4 loại:

(1) Bất nhân 不 仁 (15 điều): nói những việc bất nhân như dùng độc dược hại người (10 quá); hại mạng người (100 quá); hại mạng chúng sinh thú cầm (10 quá); học bùa chú để hại người (10 quá); mưu hại người bị tử hình (mưu thành bị 100 quá, mưu bại bị 10 quá); nảy sinh lòng tà dâm (1 quá); nói lời độc ác đối với sư trưởng (10 quá), với người thiện (8 quá), với người bình thường (4 quá), với trẻ em hoặc kẻ dưới (1 quá), v.v.

(2) Bất thiện 不 善 (8 điều): như bài xích hủy hoại tượng thờ chư thiên tôn (20 quá), chân nhân (15 quá), thần quân (10 quá); tụng niệm kinh sót một chữ (1 quá), sót một câu (5 quá), đọc sai âm một chữ (1 quá); đọc tụng thác loạn làm mất ý nghĩa một câu kinh (5 quá); đọc tụng mà không chuyên tâm lòng còn lo nghĩ việc khác (5 quá); đọc kinh không theo nghi thức (5 quá); đọc kinh mà phát sinh sân nộ (10 quá), v.v.

(3) Bất nghĩa 不 義 (10 điều): như biết người hiền mà không tiến cử (1 quá), không bắt chước (1 quá); phản bội sư trưởng (50 quá); trộm cắp và dạy người trộm cắp (100 tiền ứng với 1 quá); mượn tiền không trả (100 tiền ứng với 1 quá); v.v.

(4) Bất quỹ 不 軌 (không noi theo phép tắc, 6 điều): như điều răn thực nhục (ăn thịt): cố ý sát sinh mà ăn (6 quá), mua thịt ăn (3 quá); ăn nhầm thức ăn có thịt (3 quá); ăn thịt vào ngày phải ăn chay (10 quá); ăn thịt xong vào chùa nói điều thiện (10 quá); và điều răn ẩm tửu (uống rượu): uống rượu cùng mưu việc ác (mỗi thăng rượu 6 quá); uống rượu với kẻ bất lương (mỗi thăng 2 quá); vô cố uống rượu với thường nhân (mỗi thăng 1 quá); uống rượu trợ dâm (mỗi thăng 10 quá); uống rượu đến say vào ngày ăn chay hoặc uống xong vào chùa nói điều thiện (5 quá), v.v.

Trên đây là nội dung sơ lược của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách. Qua đó ta có thể thấy những luật định bao quát 3 phương diện: tư tưởng (ý), lời nói (khẩu), và hành vi (thân). Trong lời tựa của Thái Vi Tiên Quân Công Quá Cách, Hựu Huyền Tử nói: «Minh thư nhật nguyệt, tự ký công quá, nhất nguyệt nhất tiểu tỉ, nhất niên nhất đại tỉ. Tự tri công quá đa quả, dữ thượng thiên chân tư khảo hạch chi số chiêu nhiên tương khế.[...] Y thử hành trì, viễn ác thiên thiện, thành vi chân giới, khứ tiên bất viễn hỹ.» 明 書 日 月, 自 記 功 過, 一 日 一 小 比, 一年 一 大 比. 自 知 功 過 多 寡,  與 上 天 真 司 考 核 之 數 昭 然 相 契. [...] 依 此 行 持, 遠 惡 遷 善, 誠 為 真 戒, 去 仙 不 遠 矣 (Viết rõ từng ngày từng tháng, tự ghi công và tội của mình, một tháng thì tỉ lệ nhỏ, một năm thì tỉ lệ lớn. Tự biết công và tội của mình nhiều hay ít, và số liệu ấy ăn khớp rõ ràng với số liệu mà vị thần trên trời tra xét. [...] Cứ theo cách này mà hành trì, xa điều ác gần điều thiện, thành tâm làm theo những giới cấm chân chính này, thì thành tiên không xa vậy).

Nhưng Công Quá Cách có nhiều chủng loại. Ta có thể kể thêm Thập Giới Công Quá Cách, tương truyền là do Lữ Động Tân trứ tác.

III. THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH

Léon Wieger [9] cho rằng Thập Giới Công Quá Cách 十 戒 功 過 格 xuất hiện cuối đời Đường, nhưng theo Khanh Hy Thái, Thập Giới Công Quá Cách hấp thu nội dung tu dưỡng của Lý học gia đời Tống và Minh, như vậy ắt xuất hiện rất trễ tuy nhiên chẳng rõ vào thời điểm nào.

Thiện thư này bảo: «Học Đạo nãi thân tâm tính mệnh chi sự.[...] Dĩ thập giới định công quá.» 學 道 乃 身 心 性 命 之
IV. DỊCH THẬP GIỚI CÔNG QUÁ CÁCH [11]

1/ ĐỐI VỚI CHA MẸ [41 điều, 20 công - 21 quá].

CÔNG: Thương yêu hoà nhã với cha mẹ (mỗi ngày một công). Sớm tối hỏi han sức khoẻ (mỗi ngày một công). Khéo cư xử và lao động tốt để cha mẹ vui lòng (mỗi ngày một công). Tận tụy với cha mẹ (mỗi lần một công). Khi cha mẹ la rầy, khiêm cung lắng nghe, mà không cãi lại (1 công). Khuyên cha mẹ một điều ích lợi (3 công). Xoa dịu, an ủi cha mẹ (3 công). Chi tiêu rộng rãi cho cha mẹ (3 công). Dè dặt kín đáo khuyên cha mẹ sửa lỗi (10 công). Khuyên cha mẹ hành thiện (10 công). Thay mặt cha mẹ mà sửa chữa một lầm lỗi hoặc một món nợ (10 công). Yêu quí những gì cha mẹ yêu quí (một lần 10 công). Chăm sóc và canh chừng giấc ngủ khi cha mẹ bệnh (30 công). Chân thành chia sẻ sự khổ não của cha mẹ (50 công). Làm rạng rỡ danh tiếng cho cha mẹ (50 công). Chu đáo lo việc tang ma cha mẹ (50 công). Chịu đựng khi cha mẹ [vốn là người nóng nảy] buồn bực cáu giận (100 công). Hoán cải cha mẹ cải ác vi thiện (100 công). Không trì hoãn việc mai táng cha mẹ (100 công). Ấn định một khoản tiền dự trữ để cúng giỗ cha mẹ hằng năm (1000 công cho mỗi 100 đồng bỏ ra).

QUÁ: Khiến cha mẹ không có con cháu nối dõi tông đường bằng cách tự hủy hoại thân thể do trụy lạc hoặc bị hành hình do phạm tội (100 quá). Làm lợi cho vợ con nhưng gây tổn hại cho cha mẹ (100 quá). Khâm liệm cha mẹ vội vã qua loa (100 quá). Trì hoãn quá lâu việc mai táng cha mẹ (100 quá). Khi cha mẹ đau ốm, không quan tâm chăm sóc (50 quá). Biêu riếu tội lỗi cha mẹ (50 quá). Không cảnh báo cho cha mẹ thấy trước điều lầm lỗi (30 quá). Xúi dục cha mẹ làm điều quấy (20 quá). Nóng giận và ngược đãi cha mẹ (20 quá). Khinh bỉ bạc đãi người mà cha mẹ quý trọng (10 quá). Chán ghét ghê tởm cha mẹ già yếu tật nguyền (10 quá). Mắng cha mẹ người khác để rồi cha mẹ mình bị người ta mắng lại (10 quá). Không phân chia tài sản cho cha mẹ (10 quá). Tranh chấp tài sản với cha mẹ (10 quá). Trách móc cha mẹ (10 quá). Mặt sưng mày sỉa với cha mẹ (10 quá). Khiến cha mẹ đau khổ (10 quá). Khiến cha mẹ vất vả khó nhọc (10 quá). Đi xa, để cha mẹ già một mình ở nhà (10 quá). Thiếu sót với cha mẹ (mỗi lần 10 quá). Không kính trọng và không quan tâm cha mẹ (mỗi ngày một quá). Ăn uống không dành phần cho cha mẹ (mỗi lần một quá).

2/ ĐỐI VỚI ANH EM [24 điều, 10 công - 14 quá]

Chú ý: Cư xử tốt với anh cùng cha khác mẹ, mỗi công sẽ được nhân đôi. Cư xử tốt với anh họ, mỗi công được nhân ba.

CÔNG: Yêu thương và tận tụy với anh/em (1 công/1 người). Chân thành hòa hợp và cộng tác với anh/em (1 công/1 người). Khuyên anh/em làm điều thiện, ngăn cản anh/em làm điều ác (1 công). Không nghe lời vợ hay tôi tớ mà nghịch với anh/em (10 công). Không cãi cọ với anh/em về công việc hằng ngày (10 công). Không giành lấy riêng cho mình những tài sản chung trong nhà (10 công). Chịu phí tổn về tang ma/cưới hỏi của anh/em (50 công/1 người). Cưu mang anh/em bị sa sút túng bấn (50 công). Bằng cách nêu gương tốt và khuyên bảo, khiến cho anh/em trở nên tốt đẹp hơn (100 công).

QUÁ: Làm cho gia đình bất hòa, chia rẽ, kiện tụng giữa anh em (100 quá). Bạc đãi và xúc phạm em út (100 quá). Không cứu giúp anh/em lúc khốn khó (100 quá). Cản trở anh/em làm điều thiện, xúi giục làm điều ác (50 quá). Tranh chấp lợi lộc giữa anh em (10 quá). Nghe lời gièm pha của vợ hay tôi tớ mà chia rẽ anh em (10 quá). Hất hủi anh/em kém may mắn đến vay mượn (10 quá). Ganh tị với anh/em may mắn hơn mình (mỗi ngày 2 quá). Tỏ ra thói xấu với anh/em (1 quá). Không cho em những gì em cần (mỗi lần 1 quá). Lấy quá phần của mình lẽ ra được hưởng (giá trị cứ 100 quan thì tính 1 quá). Làm thinh khi thấy anh/em làm quấy (1 quá). Nói xấu về anh/em trước mặt người lạ (1 quá). Chú ý: Không đề cập chị em gái vì họ không ở lâu với gia đình. Các cô con gái được gả đi càng sớm càng tốt. Họ không có quyền thừa kế.12

3/ ĐỐI VỚI THÊ THIẾP 13 [15 điều, 6 công - 9 quá]

CÔNG: Chồng nhường nhịn, khiêm tốn đối với thê/thiếp (mỗi ngày 1 công). Cảnh báo cho họ biết những lỗi lầm (mỗi lần 1 công). Khéo xử để thiếp giữ phận thấp hơn thê (1 công). Cản trở vợ và con gái không cho đi rong chơi khỏi nhà (10 công). Khuyên bảo vợ trẻ biết tôn trọng cha mẹ chồng và sống hòa hợp với chị/em gái của chồng (50 công). Khuyên bảo vợ khéo cư xử (100 công).

QUÁ: Lúc nên danh phận và giàu có thì ruồng rẫy vợ (100 quá). Làm ngơ khi vợ thiếu sót bổn phận với cha mẹ chồng (100 quá). Coi trọng thiếp hơn thê (100 quá). Cho phép vợ này hà hiếp vợ kia (30 quá). Không nghe lời can gián đúng đắn của vợ (10 quá). Cho phép vợ đi rong chơi (10 quá). Để mặc thê thiếp chưởi nhau thô tục (5 quá). Để cho vợ kế hành hạ con của vợ quá cố (1 quá). Để cho thê thiếp bất hòa (mỗi ngày 1 quá).

4/ CHA VÀ CHÚ BÁC ĐỐI VỚI CON CHÁU [13 điều, 5 công - 8 quá].

CÔNG: Giúp con/cháu một ý kiến hay (mỗi lần 1 công). Ngăn cấm con/cháu làm quấy (mỗi lần 10 công). Ngăn cấm con/cháu trộm cắp (mỗi lần 30 công). Dạy con/cháu về đạo đức (mỗi lần 100 công).

QUÁ: Không dạy con/cháu biết bổn phận chủ yếu của chúng (100 quá). Cản trở sự học hành của chúng (50 quá). Xúi trẻ làm quấy (50 quá). Lợi dụng trẻ ngây thơ (30 quá). Dung túng con/cháu tập tành thói hư tật xấu (30 quá). Làm gương xấu cho chúng (10 quá). Con yêu con ghét (10 quá). Chưởi rủa đánh đập con cháu thay vì giáo dục chúng (2 quá).

5/ MÔN ĐỆ ĐỐI VỚI THẦY, BẰNG HỮU ĐỐI VỚI NHAU [17 điều, 10 công - 7 quá].

CÔNG: Tôn kính thầy và thực hành điều thầy dạy (mỗi ngày 1 công). Giao du với bạn tốt và duy trì sự kết giao này (mỗi ngày 1 công). Chia sẻ với bạn những gì mình có (giá trị cứ 100 quan tính 1 công). Gạt bỏ ngoài tai những xúi giục của bạn xấu (mỗi lần 1 công). Chia sẻ vui buồn với bạn (mỗi lần 1 công). Giữ lời hứa với nhau (mỗi lần 1 công). Dẫn dắt bạn về đường ngay lẽ phải (10 công). Khi trở nên giầu có không đoạn giao với bạn cũ thuở hàn vi (30 công). Thành tâm tưởng nhớ bạn quá cố (30 công). Trợ giúp bạn lúc bạn gặp nguy khó (100 công).

QUÁ: Từ chối giúp bạn khi mình có khả năng giúp được (50 quá). Từ chối giúp vợ con của bạn khi bạn qua đời hay đi xa (50 quá). Quên lãng thầy học, bạn quá cố, bạn sa cơ lỡ vận (50 quá). Vô cớ đoạn giao với bạn cũ (20 quá). Phê bình và chỉ trích thầy học về nhân cách và sự giảng huấn (10 quá). Yếu lòng nghe lời bạn xấu xúi dục làm quấy (3 quá). Nuốt lời hứa với bạn (1 quá).

6/ ĐỐI VỚI GIA NHÂN14 [16 điều, 8 công - 8 quá]

CÔNG: Chu cấp rộng rãi thực phẩm và y phục cần thiết cho họ (mỗi ngày 1 công). Động viên và an ủi họ trong công việc (mỗi lần 1 công). Tha thứ lỗi vặt của họ (mỗi lỗi 2 công). Chăm sóc họ lúc họ đau ốm (20 công). Tác thành cho tôi tớ kết hôn với nhau (20 công). Thuận cho tớ gái lấy chồng bên ngoài và cho của hồi môn (30 công). Mua trẻ nô lệ và trả nó về cha mẹ nó mà không đòi hỏi gì hết (cứ 100 quan giá mua tính 1 công). Giáo dục đạo đức cho tôi tớ (100 công).

QUÁ: Buộc tôi tớ phải sống độc thân [mà phục vụ chủ] (100 quá). Tra tấn làm què quặt tôi tớ (100 quá). Bán tớ gái cho kẻ muốn lợi dụng ả (100 quá). Thông dâm với tớ gái (20 quá). Thưởng phạt tôi tớ một cách bất công (20 quá). Vô cớ quát mắng tôi tớ (3 quá). Cư xử tàn nhẫn với tôi tớ (5 quá). Không chu cấp tôi tớ nhu yếu phẩm (mỗi ngày 1 quá).

7/ BÁC ÁI TỪ THIỆN [75 điều, 41 công - 34 quá]

CÔNG: Thu nhận người không nơi nương tựa (mỗi ngày 1 công). Cung cấp thực phẩm cho kẻ bị đói kém (1 công). Cho 10 người khát uống nước (1 công). Cấp y phục cho người thiếu mặc (giá trị y phục cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn đèn đóm (1 công). Cho mượn ô đi mưa/nắng (1 công). Phát thuốc miễn phí (1 công). Đưa giúp một lá thư giùm cho ai đến tay người nhận mà không đọc lén (1 công). Bố thí cho người nghèo (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp kẻ tha hương [nghèo túng] được hồi hương (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Giúp vợ chồng người ta [vì hoàn cảnh phải xa nhau] được đoàn tụ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Mùa đông cho kẻ hành khất bát canh nóng (1 công). Giúp người trong việc tang ma, cưới hỏi (cứ 100 quan tính 1 công). Đóng góp tiền để tạo tác hoặc bảo trì cầu cống, đường sá, đê điều, giếng nước (cứ 100 quan tính 1 công). Giúp khâm liệm và mai táng xác chết [vô thừa nhận] (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Cho người bát cháo trong muà đói kém hoặc lúc thời giá đắt đỏ [kinh tế khó khăn] (2 công). Cứu giúp người bị bệnh dịch (2 công). Giúp chuộc tội cho kẻ bị án (phí tổn cứ 100 quan tính 2 công). Giúp người lang thang một chỗ qua đêm (1 đêm 2 công). Khuyên người điều hay lẽ phải (3 công). Chữa lành một vết thương nhỏ cho ai (3 công). Chôn cất xương vô chủ (10 công). Bảo vệ sức khỏe / sinh mệnh người khác (10 công). Giúp người khác trong công việc (10 công). Giúp người khỏi bị sẩy thai (20 công). Cứu người khỏi tội hình (20 công). Chữa lành một bệnh nặng (30 công). Bố thí quan tài (30 công). Cho phép chôn cất người nghèo trong phạm vi đất đai của mình (30 công). Chẩn tế cô nhi và quả phụ (30 công). Đem lại công bằng cho người bị áp bức (từ 30 đến 100 công tùy trường hợp). Cứu tế người bị đại nạn (50 công). Giúp một người nghèo khổ (50 công). Tổ chức tang ma cho người nghèo (50 công). Cứu trẻ gái khỏi bị trấn nước 15 (50 công). Cứu sống ai (100 công). Khi không có con nối dõi thì nhận một con nuôi (100 công). Giúp người nghèo một vốn liếng cần thiết để kết hôn (100 công). Thu nhận trẻ bị bỏ rơi (100 công). Giúp vợ chồng con cái người khác đang ly tán được đoàn tụ (100 công). Giúp người nghèo có một nguồn lợi đáng kể (100 công).

QUÁ: Giết người (100 quá). Hại người cho đến tàn mạt lụn bại (100 quá). Trấn nước bé gái (100 quá). Phá gia cang người khác (100 quá). Làm cho người khác hư hỏng sa đọa (100 quá). Xâm phạm nghĩa trang của gia tộc người khác (100 quá). Phá hoại mộ phần người ta (100 quá). Cản trở, phá hoại hôn nhân người khác (100 quá). Pha chế độc dược (100 quá). Chỉ vẽ phương thuốc cho ai khiến họ phải tốn kém nhưng chẳng trị được hết bệnh (100 quá). Không cứu người khỏi cơn nguy khi mình có thể giúp (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc trấn nước bé gái (50 quá). Xúi giục, tán trợ việc phá thai (50 quá). Do oán hận mà hãm hại gia đình người ta (50 quá). Quăng ném bừa bãi hài cốt đã bị khai quật ra ngoài đồng ruộng (50 quá). San bằng phần mộ người khác trong vùng đất của mình (50 quá). Đạp dẫm lên lúa người khác trồng (30 quá). Làm hư hoại cầu, phà, giếng nước công cộng (30 quá). Trừng phạt lầm người (30 quá). Có thể giúp mà không chịu giúp cô nhi quả phụ lúc hoạn nạn (30 quá). Có thể làm được mà không chịu minh oan cho kẻ bị kết án sai (30 quá). Làm thầy thuốc mà chăm sóc bệnh nhân cẩu thả (20 quá). Không giúp kẻ bất hạnh (20 quá). Có thể làm được mà không chịu chỉ dạy cho người điều hay lẽ phải (10 quá). Xúc phạm người già, người tật nguyền, trẻ em (10 quá). Hớn hở mưu lợi từ sự bất hạnh của người khác (10 quá). Suốt một ngày làm cản trở giao thông tại đường nhỏ hẹp, bến phà, cầu kiều (10 quá). Quở trách người vô tội (3 quá). Đọc lén thư người khác (3 quá). Có trách nhiệm quản lý nhưng quản lý tồi nhân viên (3 quá). Uy hiếp, khủng bố người khác (3 quá). Cự tuyệt người nghèo đến xin giúp đỡ (2 quá). Gọi đích danh tên riêng của ai (2 quá). [16]

8/ THƯƠNG YÊU LOÀI VẬT [16 điều, 8 công - 8 quá]

CÔNG: Cứu một con vật vô dụng [như già yếu, bị giết](1 công). Cứu một côn trùng (1 công). Nuôi nấng chu đáo gia súc (mỗi ngày 1 công). Chôn xác một con vật bị chết (1 công). Vuốt ve xoa dịu một con vật đang bị đau đớn (1 công). Mua và phóng sinh các con vật nhỏ bị bắt giữ (phí tổn cứ 100 quan tính 1 công). Không ăn thịt trong một năm (5 công). Cứu một con vật có ích (10 công).

QUÁ: Xúi giết hoặc ngăn cản phóng sinh một con vật (100 quá). Sát sinh một con thú lớn để ăn thịt (100 quá). Sát sinh một con thú có ích (20 quá). Sát sinh một con thú vô dụng [như già yếu] (3 quá). Sát sinh một côn trùng (1 quá). Xông khói hủy hoại tổ hang thú vật hay côn trùng (3 quá). Nhốt giữ chim trong lồng (1 quá). Không thương xót một con vật bị đau đớn (1 quá).

9/ TỔNG QUÁT VIỆC THIỆN VÀ ÁC [40 điều, 12 công - 28 quá]

CÔNG: Khuyên người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyến khích và giúp người hành thiện (người được 1 công, mình được 1/2 công). Khuyên ai đóng góp tiền làm việc thiện (cứ 300 quan tính 1 công). In ấn và truyền bá sách khuyến thiện (phí tổn in ấn cứ 100 quan tính 1 công). Tặng ai một bản kinh sách khuyến thiện (10 công). Trong công việc, làm tốt nhiệm vụ được giao (10 công). Khuyên một gia đình hướng thiện (30 công). Công bố người tốt việc tốt (30 công). Xây dựng trường học cho bá tính (30 công /1 học sinh học ở đó). Giúp một người cải tà quy chính (50 công). Đề xướng một công trình công ích (100 công). Truyền bá tiểu sử những vị đạo đức, anh hùng (1000 công). Hoà giải một vụ xung đột, tranh chấp (3 công). Hoá giải một mối hận thù (5 công). Dàn xếp một vụ kiện tụng (5 công). Đốt bỏ sách đồi trụy (10 công). Cản ngăn sự đàm luận thô tục về phụ nữ (10 công). Lên án việc trấn nước trẻ gái (30 công). Cảnh báo một tội ác sắp xảy ra (30 công). Thuyết giảng về sự hòa thuận (50 công). Giảng về đạo hiếu (100 công).

QUÁ: Ngăn cản sự khuyến thiện (100 quá). Sàm báng người thiện lương (50 quá). Không hành thiện (5 quá). Khi có khả năng mà không động viên giúp đỡ ai cả (5 quá). Yểm tài người có công (5 quá). Là nguyên nhân khiến người khác tiếp tục lún sâu vào tội ác (5 quá). Tán tụng người quấy, khen kẻ tà đạo (5 quá). Dạy người làm ác (mỗi việc ác 1 quá, người xúi giục bị 2 quá). Xúi giục và tiếp tay người làm ác (mỗi người 1 quá). Gieo bất hòa, xúi giục kiện tụng (100 quá). Đỡ đầu trẻ lang thang để xúi chúng làm ác (100 quá). Khắc in và truyền bá sách đồi trụy (50 quá). Viết hồ sơ giấy tờ cho một vụ kiện càn quấy (50 quá). Viết giấy xác nhận ly hôn (50 quá). Tiến cử, giới thiệu kẻ vô đạo đức (30 quá). Bày vẽ cho người lề thói đồi bại (30 quá). Giao du với kẻ ác (mỗi lần 10 quá). Không an ủi kẻ đau khổ (1 quá). Không soi sáng cho kẻ u mê gây ác (1 quá).

10/ TƯ TƯỞNG [12 điều, 6 công - 6 quá]

CÔNG: Quét sạch tư tưởng hắc ám ngay khi nó mới nảy sinh trong đầu (1 công). Luôn ăn ở đàng hoàng ngay cả khi không có mặt ai (mỗi ngày 1 công). Không làm những gì có thể kích thích tư tưởng hắc ám (mỗi ngày 1 công). Suy gẫm điều thiện/ác xảy ra cho người thể như cho mình (10 công). Trọn một tháng làm lành tránh ác (100 công cộng thêm số công của các việc thiện đã làm, coi như thưởng cho sự bền bĩ).

QUÁ: Nuôi dưỡng trong đầu những tư tưởng hắc ám suốt một ngày (30 quá). Muốn điều xấu xảy ra cho người (10 quá). Đắc ý hớn hở trước lỗi lầm kẻ khác (10 quá). Không tin vào đức hạnh của người khác (2 quá). Khoái trá nghĩ đi nghĩ lại một tư tưởng bẩn thỉu (mỗi lần 1 quá). Uất hận, hoặc có tư tưởng xấu nói chung (mỗi lần 1 quá). Lơ đãng khi đọc kinh hoặc cầu nguyện (mỗi lần 1 quá).

11/ HÀNH VI [19 điều, 10 công - 9 quá]

CÔNG: Hoàn thành nhiệm vụ trong ngày (1 công). Hành động vì bổn phận, không vì cầu khen thưởng (2 công). Tự sửa được lỗi lầm khi được cảnh cáo (3 công). Noi gương tốt của ai (3 công). Không tìm cầu ân huệ của kẻ giàu sang quyền thế (5 công). Kiêng tránh những tham vọng ngông cuồng (20 công). Nhượng bộ người đức hạnh (20 công). Bền bĩ kiên trì hành thiện cho đến lúc đạt kết quả tốt đẹp (20 công). Chịu thiệt phần mình mà lợi cho người (50 công). Sống hòa thuận với người khác, không chấp nê những xúc phạm vụn vặt (100 công).

QUÁ: Mưu hại người (100 quá). Làm hại người để lợi về mình (50 quá). Sàm báng người đạo cao đức trọng (50 quá). Giành công về mình những điều thiện không do mình làm (30 quá). Núp bóng việc công để trục lợi riêng [như lợi dụng lạc quyên để bỏ túi riêng] (10 quá). Ngoan cố làm ác (3 quá). Cản trở không cho một việc thiện được thành tựu (1 quá). Hành động ích kỷ (1 quá). Từ chối không tán thành một việc đáng tưởng thưởng (1 quá).

12/ NGÔN NGỮ [18 điều, 5 công - 13 quá]

CÔNG: Nói năng thận trọng, dè dặt, trung thực (mỗi ngày 1 công). Nói lời lành và lời ấy giúp ích cho ai (10 công). Khuyến khích việc lành, bài bác việc ác, bằng cách giảng thuyết về lẽ thiện ác báo ứng, luật nhân quả (10 công). Chứng minh sự vô tội của một bị cáo (50 công). Giảng thuyết sách khuyến thiện (100 công).

QUÁ: Làm báo cáo láo, phúc trình sai lạc (100 quá). Nói báng bổ thánh thần (50 quá). Tiết lộ tật kín của ai (50 quá). Châm biếm về đức hạnh phụ nữ (50 quá). Gieo rắc bất hòa (30 quá). Nói lừa phỉnh ai (10 quá). Báng bổ việc thiện, đạo đức (10 quá). Đặt vè châm biếm ai (5 quá). Diễu cợt dáng vẻ bộ điệu của ai (3 quá). Thích nói về khuyết điểm của người khác (1 quá). Nói dối (1 quá). Nói chơi, nói tục (1 quá). Ba hoa lắm lời không thôi (1 quá).

13/ ĐỐI VỚI THÁNH THẦN [16 điều, 4 công - 12 quá]

CÔNG: Cúc cung phụng thờ thiên thần, địa thần, tổ tiên nơi từ đường (1 công). Lấy giấy có chữ lẫn trong đống rác mà đốt đi 17(1 công). Chi phí vào nơi đền miếu thờ phụng (cứ 100 quan tính 1 công). Khắc in và truyền bá lời dạy của thánh hiền (100 công).

QUÁ: Phê bình thánh hiền và chữ nghĩa của thánh hiền (100 quá). Phá hoại miếu mạo, đền chùa (50 quá). Hủy hoại kinh sách (20 quá). Nhục mạ thánh thần, tổ tiên (20 quá). Trích dẫn kinh sách để đùa cợt mua vui (10 quá). Gọi tên thần thánh để thề thốt gian dối (10 quá). Day về hướng Bắc [có sao Bắc Đẩu, nơi ngụ của chư thần] mà chưởi rủa, khạc nhổ, tiểu tiện (3 quá). Làm dơ bẩn giấy có chữ viết/in (3 quá). Làm dơ bẩn bếp lò và giếng nước [là nơi của Táo quân và chư thần] (1 quá). Tay bẩn chạm vào kinh sách (1 quá). Đêm tối để cho thân thể lõa lồ 18(1 quá).

14/ DỤC VỌNG VÀ TỰ CHỦ [15 điều, 8 công - 7 quá]

CÔNG: Lịch sự, nghiêm trang (mỗi ngày 1 công). Không lì lợm, ngoan cố (1 công). Chịu đựng sự mâu thuẫn (1 công). Không nổi giận (3 công). Kiên trì, chịu khó (3 công). Tha thứ kẻ xúc phạm mình (3 công). Nhẫn nhịn sự công kích/chống đối (5 công). Cam chịu nghịch cảnh, không oán trách trời và người (10 công).

QUÁ: Cư xử thô lỗ cục súc (100 quá). Hay gây hấn với mọi người (30 quá). Phản kháng, cãi lại (10 quá). Càu nhàu phàn nàn khi có lỗi hay thất vọng (5 quá). Cáu giận, quát tháo (5 quá). Thích lời nịnh bợ (1 quá). Khi say rượu chưởi bới/đánh đập người khác (1 quá).

15/ Y PHỤC VÀ ẨM THỰC [7 điều, 3 công - 4 quá]

CÔNG: Tri túc (mỗi ngày 1 công). Gom nhặt ngũ cốc rơi rớt trên mặt đất (1 công). Ăn không kén chọn/đòi hỏi thức ăn (1 công).

QUÁ: Mong muốn quá phận (10 quá). Mặc y phục vượt quá hoàn cảnh của mình (5 quá). Lãng phí ngũ cốc (1 quá). Hoang phí của cải, vật chất (1 quá).

16/ TÀI SẢN VÀ THƯƠNG NGHIỆP [31 điều, 14 công - 17 quá]

CÔNG: Trung thực trong kinh doanh (mỗi ngày 1 công). Chia lời lãi chính xác cho người hùn hạp kinh doanh (1 công). Trả lương đúng kỳ hạn cho nhân viên (1 công). Cho người hàng xóm mượn đồ nghề khi họ cần đến (1 công). Thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 1 công). Xỏ xâu các quan tiền và đếm đúng (cứ 100 quan tính 1 công). Nộp thuế đủ và đúng hạn (cứ 100 quan tính 1 công). Không tăng giá lúa gạo / lương thực trong năm đói kém (cứ 100 quan tính 1 công). Bố thí xứng đáng cho người nghèo đang xin mình (cứ 100 quan tính 1 công). Nhận phải tiền giả bạc giả, thà chịu thiệt thòi phần mình chứ không chuyển sang người khác (cứ 100 quan tính 1 công). Cho mượn tiền không lấy lãi (cứ 200 quan tính 1 công). Cân đo đúng (10 công). Không truy bức một con nợ đang túng quẫn (10 công). Giúp một gia đình mắc nợ được phục hồi cơ nghiệp (100 công).

QUÁ: Làm tiền giả bạc giả (100 quá). Tiêu tán di sản tổ tiên (100 quá). Truy bức một con nợ đang túng quẫn (100 quá). Chiếm đất đai người khác (50 quá). Xúi giục người khác cờ bạc (10 quá). Cờ bạc bịp (cứ 100 quan ăn gian tính 1 quá). Cưỡng đoạt tiền của người khác (cứ 100 quan tính 10 quá). Trục lợi từ cảnh khốn cùng của người khác (cứ 100 quan tiền lời tính 10 quá). Trong năm đói kém, bán lúa gạo cứa cổ thiên hạ (mỗi ngày 1 quá). Trong thanh toán, tính trội số tiền mà người ta phải trả (cứ 100 quan tính trội tính 5 quá). Không thừa nhận một khoản nợ mình đã vay hay một khoản tiền mà người khác gởi cho mình giữ giùm (cứ 100 quan tính 5 quá). Uy hiếp người ta phải bán rẻ cho mình một tài sản (cứ 100 quan tiền lời tính 5 quá). Chi trả cho người khác tiền giả, ngân phiếu giả, bạc giả (cứ 100 quan tính 3 quá). Cân đo dư khi thu vào, cân đo thiếu lúc bán ra (cứ 100 quan lời bất chính tính 1 quá). Trộm cắp hoặc gây thiệt hại cho người (cứ 100 quan tính 1 quá). Dùng sái tài năng trời phú cho mình [dùng tài năng vào việc bất chính] (mỗi lần 1 quá). Lén chiếm đoạt tài sản của người dù là cây kim cọng rạ (1 quá).

17/ GIỚI DÂM [38 điều, 16 công, - 22 quá]

CÔNG: Trải qua một ngày một đêm không tà ý (1 công). Không đọc dâm thư, không xem hình ảnh đồi trụy (1 công). Tránh né một cuộc gặp gỡ nguy hiểm [dẫn đến tà dâm] (1 công). Không kết giao kẻ dâm ác (1 công). Ngăn cản người khác thốt lời tục tĩu (3 công). Mạnh dạn nói về hậu quả của hạnh kiểm xấu, v.v. (mỗi lần 1 công). Không nhìn chòng chọc vào người đẹp (5 công). Xua đuổi kẻ xúi mình làm quấy (5 công). Ở nhà cư xử trang nghiêm với vợ (10 công). Cưỡng lại sự sa ngã cám dỗ (mỗi lần 10 công). Tôn trọng tớ gái (100 công). Tôn trọng một phụ nữ, không lợi dụng cô ta trong hoàn cảnh có thể lợi dụng được (100 công). Hủy bản khắc gỗ dùng in sách/ảnh đồi trụy (300 công). Viết bài đả kích sự dâm dục (300 công). Dìu dắt một thiếu nữ bỏ nhà đi hoang trở về với gia đình (300 công). Suốt đời không ngoại tình (1000 công).

QUÁ: Sáng tác dâm thư, vẽ hình tục tĩu (vô số quá). Do thông dâm mà ám sát/đầu độc một phụ nữ (1000 quá). Do phóng đãng mà phá nát gia cang (1000 quá). Xúi giục người phá thai (1000 quá). Thông dâm với tớ gái, gái góa, nữ tu (300 quá). Thông dâm với đàn bà đã từng trung trinh với chồng (100 quá). Thông dâm với phụ nữ mất hạnh phúc [chăn gối] trong hôn nhân (50 quá). Cưỡng dâm tớ gái, vợ của tớ trai, vú em (100 quá). Qua đêm với gái điếm (10 quá). Ăn chơi sa đọa làm hủy hoại thân thể [hoặc mắc bệnh phong tình] đến nỗi cha mẹ không có cháu nối dõi (100 quá). Chứa gái điếm, dắt mối cho kẻ kê gian [19], công khai bảo bọc gái điếm hay gái bao (10 quá). Trong danh sách các tuồng hí kịch, cố ý lựa chọn các vở tuồng dâm đãng (10 quá). Ngắm nghía phụ nữ một cách đầy tà ý (5 quá). Bỡn cợt trơ trẽn về tính dục (5 quá). Tại nhà, quá phóng túng suồng sã với vợ (5 quá). Không kiêng cữ chuyện chăn gối vào các ngày giỗ cha mẹ (3 quá). Sở hữu và gìn giữ dâm thư, hình ảnh đồi trụy (mỗi ngày 1 quá). Đặt thơ vè tục tĩu (1 quá). Trong mùa nóng nực để thân thể lõa lồ cho thoải mái (1 quá). Nói lời tục tĩu (1 quá). Trên phố không nhường bước phụ nữ (mỗi lần 1 quá). Chưởi tục tớ gái (mỗi lần 1 quá).

TẠM KẾT

Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách là ba thiện thư tối cổ và tiêu biểu của Đạo giáo. Ta nhận ra sự dung hợp luân lý tam giáo với lý luận của Đạo giáo về sinh mệnh (tu luyện thành tiên).

Công Quá Cách quá chú trọng vào sự tính toán chi li điểm số (công coi như điểm dương, quá coi như điểm âm), cuối cùng sự tổng kết điểm số sẽ đưa đến một phần thưởng hay hình phạt vô hình nào đó. Người tuân thủ Cảm Ứng Thiên, Âm Chất Văn, và Công Quá Cách dễ có xu hướng làm điều thiện để hưởng phúc lộc, trông chờ bách phúc biền trăn, thiên tường vân tập 百福 駢 臻 千 祥 雲 集 (trăm phúc cùng đến, ngàn may mắn tụ về).

Tuy nhiên đôi khi cái ranh giới thiện ác khó mà phân định rõ ràng. Một hành vi, một lời nói, hay một ý nghĩ không phải luôn được đánh giá (thiện/ ác) giống nhau trong sự nhận thức của từng người. Ở khía cạnh này, Công Quá Cách đã giải quyết được bằng cách nêu ra từng trường hợp cụ thể (thế này là thiện, thế kia là ác, thậm chí được tính điểm là bao nhiêu nữa) nhưng những trường hợp ấy vẫn chưa được kể ra đầy đủ so với cuộc đời đa đoan phiền toái thiên hình vạn trạng.

CHÚ THÍCH

[1] Phần này chủ yếu dựa vào Khanh Hy Thái 卿 希 泰 chủ biên, Trung Quốc Đạo Giáo 中 國 道 教, Thượng Hải, 1996, quyển 2, trang 356-358, và Lý Cương 李 剛, Đạo Giáo Sinh Mệnh Luân Lyù 道 教 生 命 倫 理, Tứ Xuyên Nhân Dân xbx, 1994, tr. 158-164.

[2] Đạo Cao Đài cũng có cách ghi tương tự, gọi là Vô Ngã Kiểm 無 我 檢, tự kiểm mà tu dưỡng để tiến tới cảnh giới thuần chân vô ngã 純 真 無 我.

[3] Thuộc Đạo Tạng 道 藏 - Động Chân 洞 真bộ, Giới Luật 戒 律loại.

[4] Tử phủ 紫 府: cung trời (heaven), cung tiên (the palace of the genii). Mathews' Chinese-English Dictionary, Harvard University Press, 1971, mục từ 6954.

[5] Chung Lữ Truyền Đạo Tập 鐘 呂 傳 道 集 do Lữ Động Tân 呂 洞 賓ghi chép lời của Chung Ly Quyền 鐘 離 權truyền đạo cho mình dưới hình thức vấn đáp. Sách xuất hiện cuối đời Đường, gồm 18 luận đề, là một cổ thư về luyện đan hết sức quan trọng.

[6] Tam đảo (hoặc Tam Tiên Đảo三 仙 島 hay Tam Hồ 三 壺) là ba đảo tiên ở Bột Hải 渤 海 (theo truyền thuyết), gồm Bồng Lai 蓬 萊, Phương Trượng 方 丈 và Doanh Châu 瀛 洲. Xưa kia Tần Thủy Hoàng 秦 始 皇 nghe lời mê hoặc của các phương sĩ như Từ Phất 徐 芾, Lô Sinh 盧 生, Hàn Chúng 韓 眾 và Hầu Công 侯 公 v.v , đã hoài công sai họ và biết bao đồng nam đồng nữ cùng hàng nghìn người trai giới đem lễ vật vượt trùng dương tìm Bồng Lai Phương Trượng mà xin thần tiên thuốc trường sinh bất tử.

[7] Ngô Phong 吳 楓 chủ biên, Trung Hoa Đạo Học Thông Điển 中 華 道 學 通 典, Nam Hải Xuất Bản Công Ty, 1994, tr. 515 (Chú giải Thái Bình Kinh 太 平 經).

[8] Quan 鰥: kẻ góa vợ hoặc không vợ; quả 寡: kẻ góa chồng; cô 孤: trẻ mồ côi; độc 獨: người không con.

[9] Léon Wieger S.J., Histoire des Croyances religieuses et des Opinions philosophiques en Chine, Hien-hien 獻 縣 (Hiến Huyện), 1927, tr. 579 (L'index des mérites et des démérites). Xem bản dịch phía sau.

[10] Lão Tử nói: «Tín ngôn bất mỹ, mỹ ngôn bất tín» 信 言 不 美 美 言 不 信 (Lời đáng tin thì không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không đáng tin), Đạo Đức Kinh 道 德 經, chương 81. Khổng Tử nói: «Xảo ngôn lệnh sắc tiển hỹ nhân» 巧 言 令 色 鮮 矣 仁 (Kẻ nào lời nói hoa mỹ và bề ngoài kiểu cách ắt kém lòng nhân), Luận Ngữ 論 語, Học Nhi 學 而.

[11] Dịch theo bản Pháp văn của Léon Wieger, Sđd., tr. 579.

[12] Bản Công Quá Cách này vẫn không thoát khỏi quan niệm trọng nam khinh nữ cố hữu của Trung Quốc.

[13] Đây là bối cảnh xã hội Trung Quốc thời xưa theo chế độ đa thê.

[14] Trong xã hội Trung Quốc ngày xưa, người ta mua gia nhân tôi tớ (từ những gia đình nghèo) và thường buộc họ phải sống độc thân mà phục vụ chủ. Công Quá Cách khuyên chủ nhân phải cho tôi tớ sự tự do kết hôn, giúp họ có hạnh phúc riêng tư, chu cấp tớ gái (cho của hồi môn) khi lấy chồng. Đây là tư tưởng tiến bộ của Công Quá Cách, giải thoát cho gia nhân kiếp tôi đòi.

[15] Thói trọng nam khinh nữ khiến nhiều kẻ nhấn nước giết trẻ gái là con mình.

[16]  Người Trung Quốc xưng hô bằng họ, gọi tên là khinh bỉ.

[17] Ý nói văn tự là phát minh tuyệt diệu của thánh hiền, truyền cho con người tri thức, sự thông minh, và đạo lý; xúc phạm văn tự (ném giấy có chữ vào đống rác hay đi vệ sinh) là có lỗi.

[18] Ý nói nơi nào dù nhà tối cũng có chư thần, để thân thể lõa lồ là xúc phạm thần linh.

[19] «Servir de proxénète à une prostituée, à un sodomite.» Kinh mà ghi rõ là sodomite kể cũng lạ.

(Lê Anh Minh khảo & dịch)

Tề vật luận

A. Nam Quách Tử Kỳ ngồi dựa ghế, ngửa mặt hà hơi, bơ phờ như người mất hồn.

Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước mặt, thấy vậy, hỏi: “Sao mà hình hài có thể khiến được như cây khô, còn lòng thì có thể khiến được như tro lạnh? nay người ngồi trên ghế có còn phải là người ngồi trên ghế trước đây nữa không?”

Tử kỳ nói: “Yển! Câu hỏi của ngươi đâu phải là không đúng! ta nay đã mất bản ngã rồi, ngươi có biết chăng? Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của người mà chưa nghe tiếng sáo của đất. Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của đất mà chưa nghe tiếng sáo của trời.”

Tử Du nói: “Dám hỏi dùng phương chi nói để cho tôi hiểu được?”

Tử Kỳ nói: “Hơi thở của đại khối, gọi là gió. Nó không nổi lên thì thôi. Nó mà nổi lên thì muôn lỗ hổng gào thét lên, riêng ngươi chẳng nghe nó ào ào đó hay sao? Mấy chỗ sâu hõm của núi rừng, những bọng của cây to trăm vòng, như mũi, như miệng, như tai, như xà, như vành, như cối, như ao sầu, như vũng cạn… khi thì rập nhau la lối, nạt nộ, gầm thét, khi lại bỏ giọng rù rì, nỉ non, than thở. Tiếng trước xướng lên, tiếng sau họa lại. Gió hiu hiu thì là tiểu hòa; gió vụt vụt thì là đại hòa. Đến khi gió lặng, thì các khiếu đều êm. Riêng ngươi không thấy cành lá còn rung động đó hay sao?”
Tử Du nói: “Tiếng sáo Đất là tiếng hòa của muôn khiếu. Tiếng sáo của người là tiếng hòa của ống trúc. Dám xin hỏi thế nào là tiếng sáo của Trời?”

*

B. Tử Kỳ nói: “Kìa như gió thổi khiến muôn tiếng không đồng nhau vang lên, nhưng mà lại khiến cho nó tự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là gì đấy? Biết một cách bao trùm rộng rãi, đó là hạng đại trí; biết một cách chia lìa vụn vặt, đó là hạng tiểu trí. Lời nói tổng hợp thị phi; đó là đại ngôn, lời nói chi li biện-biệt, đó là tiểu ngôn. Khi ngủ thì tinh thần giao nhau (làm một). Khi thức, thì tinh thần bị ly khai (vì chạy theo sự vật bên ngoài). Tiếp lẫn nhau, gọi là “cấu” (hợp nhau làm một); tán mạn ra, gọi là “tâm đấu” (lòng bị chia lìa chống đối nhau). Lòng phải rộng, sâu và dè dặt. Dè dặt là cái nhỏ mà phân biệt sanh, tử; dè dặt cái lớn là xem sanh tử bằng nhau. Người đời bày cuộc bắn bia mà định thị phi, bày tờ khế ước mà phân thắng bại. Lòng người mãn tranh đấu cho thị phi lần đầu hao mòn, bị giết như thu đông giết thảo mộc. Họ đắm đuối trong việc làm đó, không làm sao cho lòng họ phục nguyên lại được. Đè nén như giam nhốt, như đè nén lời nói . Cái lòng gần chết, không sao khiến nó nóng lại được.

Nhưng mà mừng giận, thương vui, phản phúc, kinh sợ, phù phiếm, phóng túng, tình dục mở rộng… đều như tiếng nhạc do chỗ hư không mà phát lên, như đám nấm trong chỗ ẩm ướt mà sanh ra. Ngày và đêm, tiếp nhau mà hiện ra trước mặt, ai biết được đầu mối nó nơi đâu? Ôi! Ôi! Một sớm một chiều, ai biết được từ đâu mà sanh ra?

Không có đó, không có đây. (Nhưng nếu) không có đây thì biết lấy đâu làm chỗ căn cứ! Lý ấy đâu có xa xôi gì! Nhưng mà không rõ ai xui như thế? Dường như có đấng Chân-tể, nhưng mà không thấy được dấu vết của Đó. Đấng ấy có tình mà không có hình. Trăm xương chín khiếu, sáu tạng, riêng biệt ra thì không thành một thân thể; nên phải có cái “hiệp” nó lại kia mới thành một thân thể được. Thần thiếp riêng biệt ra, không đủ sức trị lẫn nhau nên không thể thành một môn hộ; nên phải có cái hiệp nó lại, mới thành một môn hộ, quân thần riêng biệt ra thì không thành một quốc gia, nên phải có cái “hiệp”cả hai lại mới thành một quốc gia. Cái mà hiệp đặng làm nên một thân thể, một môn hộ, một quốc gia, “cái đó” không bớt, cũng không thêm cho thân thể, cho môn hộ, cho quốc gia, ta gọi nó là “Tình”. Có kẻ nhận cái “hình” do đó gây ra, không quên cho đến ngày cùng tận của nó, rồi đâm chém nhau, hại lẫn nhau, mà không biết dừng, chẳng cũng đáng buồn sao? Có kẻ trọn đời làm mãi mà không thấy thành công, mệt mỏi mà không biết đâu là chỗ về, cũng chẳng đáng thương xót sao? Người ta bảo như thế mà không chết có ích gì không? Hình nó hóa đi, tâm nó cũng một thế, cũng chẳng đáng xót xa lắm sao?

Đời người mờ mịt, há phải riêng ta mờ mịt, còn kẻ khác không mờ mịt hay sao? Như biết lấy cái tâm đã thành của mình làm Thầy, thì ai là chẳng có Thầy? Cái tâm thành đã sẵn có, sao còn tìm cái chi nữa mà thế nó? Kẻ ngu cũng có nó. Chưa thành được mà lòng đã có chứa thị phi, thì có khác nào hôm nay sang nước Việt mà đã đến từ hôm trước rồi! Như vậy, tức là lấy cái không có làm cái có. Lấy cái không có làm cái có, thì tuy có Thần Võ cũng không biết được, riêng ta có làm thế nào được!
C. Lời, không phải như gió thổi: Lời phải có nói lên một cái gì. Nếu chỗ nói của nó mà chưa định, thì lời nói ấy quả đã có nói không. Hay là chưa có nói gì cả? Lời nói chưa định ấy, khác nào tiếng chim con: chưa có biết biện biệt hay không biện biệt? Đạo, sao dựa vào chân hay ngụy; lời, sao dựa vào thị hay phi? Đạo, sao qua mà không còn; lời, sao còn mà chẳng nói được? Đạo, ẩn trong tiểu thành; lời, ẩn nơi vinh hoa. Bởi vậy mới có cái phải, quấy của Nhu Mặc. Nhu Mặc thì lấy Phải làm Quấy, lấy Quấy làm Phải. (Nhưng) nếu muốn thấy được cái Phải trong cái Quấy, cái Quấy trong cái Phải, thì không có gì bằng dùng đến ánh sáng (của Đạo). Vật, không vật nào là không phải “đó”, không vật nào là không phải “đây” . Lấy chỗ nhận thấy của người mà thấy, thì không thấy; lấy chỗ biết của mình mà biết, thì mới biết. Nên mới có nói rằng: “Đó”, do đây mà ra; “đây”, nhân “đó” mà có. “Đó đây”, ấy là thuốc của “phương sinh”. Nên mới có nói Sống, nói Chết, nói Chết, nói Sống, nói được, nói không được, nói không được, nói được. Nhân có Phải, nhân có Quấy; nhân có Quấy, nhân có Phải (mà cãi nhau).

Thánh nhân thì không căn cứ vào Phải Quấy, mà căn cứ vào khiếu biết tự nhiên của mình để hiểu mọi vật. Và cũng do “đây”trước. “Đây”, cũng là “Đó”, mà “Đó” cũng là “Đây”. “Đó” cũng có một lẽ Phải Quấy của “Đó”; mà “Đây” cũng có một cái lẽ phải quấy của “Đây”. Quả có “đó đây” chăng? Quả chẳng có “đó đây” chăng? Đó và Đây mà không gặp chỗ lứa đôi (đối-đãi) của nó, thì gọi là Cốt Đạo (Đạo Xu). Cốt ấy khởi đầu nơi trung tâm của cái vòng tròn (hoàn trung), và căn cứ vào đó để mà ứng đối vô cùng (với Thị Phi). Phải, cũng là một cái lẽ vô cùng. Quấy, cũng là một cái lẽ vô cùng . Bởi vậy mới nói: đâu bằng dùng lấy ánh sáng của Đạo.

Lấy ngón tay mà thí dụ rằng ngón tay không phải là ngón tay, sao bằng lấy cái không phải là ngón tay để mà thí dụ rằng ngón tay không phải là ngón tay.

Lấy con ngựa mà thí dụ rằng con ngựa không phải là con ngựa, sao bằng lấy cái không phải là con ngựa để mà thí dụ rằng con ngựa không phải là con ngựa. Trời Đất khác nào ngón tay nói trên. Vạn vật khác nào con ngựa nói trên.

Được là được. Không được là không được. Con đường có đi mới thành đường đi, vật có gọi được tên mới thành là vật. Sao là phải vậy? Phải vậy là vì phải vậy. Sao là không phải vậy? Không phải vậy, là vì không phải vậy. Vật, có chỗ là phải vậy. Vật, có chỗ là được vậy. Không vật nào là không phải vậy; không vật nào là không được vậy. Cho nên mới có so sánh cọng cỏ với cột trụ, một người đàn bà xấu xí với Tây Thi; khoan đại, kỳ biến, gian trá, quái dị, thảy đều là một.

Có phản “nó” ra thì “nó” mới “thành”. Có “thành” thì mới có “hoại”. Phàm vật mà không “thành”, nên không “hoại” thì mới có thể “trở về”mà cùng thông với lẽ Một (của Đạo). Chỉ có bậc đạt Đạo mới thông hiểu được lẽ Một ấy mà thôi: Họ dùng đỡ cái dung mạo (bên ngoài) để hòa với mọi người. “Dung”, tức là “dụng”; “dụng”, tức là “thông”. Mà “thông”, tức là “đắc” vậy. Vui trong chỗ “đắc” ấy, ít ai được. Nhân tới đó mà “thôi đi”. “Thôi đi”, mà cũng không cần phải biết vì sao mà phải vậy, thì gọi là Đạo. Lao nhọc thần minh vì chấp nhất (trong một cái Phải hay cái Quấy nào) mà không biết trông thảy đều đồng nhau. Nên mới gọi là “sớm ba”.

Sao gọi là “sớm ba”? Có lão nuôi khỉ, phát khoai cho khỉ, nói: “Sớm ba, mà chiều bốn!” Khỉ đều giận. Lão lại nói: “Thôi, sớm bốn mà chiều ba”! Khỉ đều mừng. Số cho không thay đổi, danh và thực không thiếu, vậy mà, cái dụng ý của nó lại có mừng có giận. Bởi vậy, bậc Thánh nhân, vì sự hòa bình mà phải nói đến thị hay phi, rồi đứng yên ở cốt trục của “bánh xe Trời” (Thiên Quân): đó gọi là “lưỡng hành”.

D. Người xưa, cái biết của họ có chỗ cùng cực. Sao gọi là cùng cực? Có kẻ cho rằng thuở ban đầu chưa hề có vật gì cả, đó là một chủ trương cực đoan cùng tận, không thể còn nói gì thêm được nữa. Có kẻ thì cho rằng đã có vật rồi, nhưng vật ấy chưa từng chia phân. Lại cũng có kẻ cho rằng đã có vật rồi, nhưng vật ấy đã lại có chia phân. Thị Phi mà bị chia phân rõ rệt ra rồi, thì Đạo mới có chỗ khuyết. Đạo mà có chỗ “khuyết” (vì không đủ) mới có tạo thành ra chữ “ái” (để mà hòa hợp lại). Quả có “khuyết” có “ái” chăng? Quả không có “khuyết”, không có “ái” chăng? Bởi thấy có “khuyết” có “ái”, họ Chiêu mới khảy cầm. Không có “khuyết” có “ái” thì họ Chiêu khảy cầm làm chi?

Có Chiêu văn khảy cầm, Sư Khoáng mới lập luật định ngũ âm, Huệ tử mới giảng âm luật. Chỗ biết của ba người này có là bao nhiêu mà thiên hạ đều hoan nghênh cho đến đời cuối cùng này mà luật ấy hãy còn thịnh hành? Chỗ ưa thích của họ đâu có giống với chỗ ưa thích của chúng nhân. Muốn đem cái chỗ không sáng của mình mà soi sáng cho kẻ khác, nên suốt đời cam chịu tối tăm vì câu chuyện “kiên bạch”. Họ thử đem ngón đàn hay của họ mà truyền dạy cho con họ, trọn đời biết có truyền dạy được không! Nếu mà họ truyền đạt được, thì ta đây cũng truyền dạy được. Bằng họ truyền dạy không đặng, thì ta đây cũng truyền dạy không được. Cho nên chỗ mà bậc thánh nhân mong mỏi là được ở trong cái ánh sáng mập mờ (của cái nhìn tổng quát hỗn hợp), không dùng phép tắc của ai cả, chỉ dùng cái lý thông thường của mọi người để xử sự với đời. Đó gọi là mượn lấy ánh sáng của người vậy.

Đ. Ví như nay có người hỏi rằng: không rõ chữ “đó” có giống với chữ “đây” chăng; hay không giống với chữ “đây” chăng? Giống và không giống, hay cùng là một giống với nhau, thì là bên này không có gì khác với bên kia nữa. Tuy vậy, còn có nhiều danh từ thông thường mà ý nghĩa tương phản, ta cũng cho nó giống nhau được nữa chăng? Như những danh từ sau đây: “hữu thủy”, “hữu vị thủy hữu thủy”, “hữu vị thủy hữu phù vị thủy”, “hữu hữu”, “hữu vô”, “hữu vị thủy hữu vô”, “hữu vị thủy hữu phù vị thủy hữu vô”. Thoạt trông qua mà “có” là đã “không” rồi, nhưng cũng chưa rõ là có hay không? Và quả có cái gì là có, có cái gì là không hay chăng? Nay thì ta cũng đã có nói rồi, nhưng chưa biết rõ điều ta nói đó quả đã có nói không, hay chưa có nói không?

Dưới trời không có gì lớn bằng cọng lông mùa thu, mà không có gì nhỏ bằng núi Thái; không có gì thọ bằng đứa bé chết yểu, mà không có gì yểu bằng ông Bành Tổ.

Trời Đất cùng ta đồng sinh, và vạn vật cùng ta là một. Đã là một rồi, thì nói ra có được không? Đã gọi là một rồi, thì không nói ra có được không? Một và lời là hai. Hai với một là ba. Từ ba trở lại một, bậc gọi là xảo lịch còn không hiểu được thay, huống chi là kẻ tầm thường! Cho nên, từ chỗ “không” mà sang chỗ “có”, còn phải đến số ba, huống chi từ chỗ có mà sang chỗ có? Không phải sang qua đâu cả, chỉ nên theo chỗ có đấy là đủ.

Vả, Đạo chưa hề có khu vực; lời nói chưa hề có định thức. Có cho đây là Thị, thì mới có sự chia phân thị với phi thành từng khu vực. Vậy, xin bàn về khu vực ấy: có mặt, có trái, có luận, có nghĩa, có phân, có chia, có cạnh, có tranh, đó gọi là “bát thức”. Phần ngoài của “lục hợp”, thánh nhân để yên mà không luận đến. Phần trong của “lục hợp”, thánh nhân luận đến mà không bàn. Lịch sử đời Xuân Thu của các Tiên vương, thánh nhân bàn đến mà không chê khen biện luận. Cho nên tuy có phân chia mà không phân chia; biện bác mà không biện bác. Sao vậy? Là vì thánh nhân thì ôm giữ, chúng nhân thì biện bác để mà khoe khoang. Nên mới có lời nói này: “hay biện phân, thì có chỗ không thấy rõ được”. Vả, “đại Đạo” thì không xưng tên; “đại biện” thì không có lời; “đại nhân” thì không thương ai; “đại liêm” thì không nhún nhường; “đại dũng” thì không làm hại ai. Đạo mà sáng thì không phải Đạo; lời mà rõ ràng thì không tới chốn, nhân mà thường thì không nên việc; liêm mà thanh thì không thể tin; dũng mà hại người thì không nên việc. Năm điều ấy tròn mà thành vuông. Cho nên, biết dừng chỗ mà mình không thể biết, là đến chốn rồi vậy. Có ai biết được cách biện biệt mà không dùng đến lời, nói mà không cần phải nói ra lời? Nếu có kẻ biết được, kẻ ấy gọi là “Thiên phủ” (kho trời) đổ vô mãi mà không đầy, rót ra mãi mà không cạn, nhưng không biết do đâu mà đến. Nên mới gọi là “che ánh sáng” (bảo quang).

Cho nên ngày xưa Nghiêu hỏi Thuấn:

- “Ta muốn phạt Tông, Khoái, Tư Ngao, ngảnh mặt sang Nam mà không thấy lòng khoan khoái. Như thế là cớ làm sao?”

Thuấn nói:

- “Như ba người ấy (vua của ba nước ấy) khác nào sống ở giữa cỏ bồng cỏ ngãi. Nhà Vua sao lại không thấy lòng khoan khoái? Xưa kia, mười mặt trời cùng mọc, muôn vật đều được soi sáng, huống chi cái Đức của người còn hơn mặt trời!”

E. Khiết Khuyết hỏi Vương Nghê:

- Ông biết chỗ đồng phải giống nhau của mọi vật không?

- Ta biết đâu việc đó.

- Ông biết chỗ mà ông không biết không?

- Ta biết đâu việc đó.

- Vậy thì, mọi vật, cũng không biết gì cả hay sao?

- Ta biết đâu việc đó. Tuy vậy, ta thử nói xem sao. Biết đâu cái mà ta gọi là biết, lại chẳng phải là cái mà ta không biết? Biết đâu cái mà ta gọi là không biết lại chẳng phải là cái mà ta biết? Vả, ta đã từng thử hỏi ngươi: người nằm trong chỗ ẩm thấp thì sanh ra đau lưng và tê liệt một bên mình; con cá chạch thì có sao không? Người ở trên cây run rẩy sợ sệt; còn loài khỉ vượn thì có sao không? Ba loài ấy, ai biết chỗ ở nào là chỗ ở chính? Con người thì ưa ăn thịt thà, hươu nai thì thích ăn cỏ non; rết thì cho rắn con là ngon; chim mèo chim cú thì nghiện ăn chuột bọ. Bốn loài ấy, ai biết vị ăn nào là chính vị? Vượn và khỉ theo với nhau, nai và hươu cùng với nhau, chạch và cá lội với nhau. Mao Tường, Lệ Cơ, người thấy thì cho là đẹp, mà cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay cao, hươu nai thấy thì chạy dài. Bốn loài ấy, ai biết sắc đẹp nào là chính sắc trong thiên hạ?

Tự mà xem, thì đầu mối của nhân nghĩa, đường nẻo của thị phi rối loạn lung tung, ta làm sao biết đâu mà phân biện.

Khiết Khuyết nói: “Ông không biết lợi hại, còn bậc chí nhân cũng không biết lợi hại nữa hay sao?”

Vương Nghê nói: “Chí nhân là bậc thần: chầm lớn cháy, không thể làm cho đó nóng, sông Hà sông Hán đặc mà không thể làm cho đó lạnh; sét đánh vỡ núi; gió dậy biển cả cũng không làm cho đó sợ. Người như thế thì theo hơi mây, cỡi mặt trời mặt trăng mà rong chơi ngoài bốn biển, chết sống còn không làm cho người họ điên đảo phương chi là mối lợi hại?”
G. Cù Thước hỏi Trường Ngô:

- Tôi nghe nơi ông rằng thánh nhân không bận đến việc đời; không tìm lợi; không lánh hại; không tha thiết đến việc gì; cũng không quấn quít với Đạo; có nói (mà như) không có nói; không nói (mà như) đã nói; tha hồ rong chơi ngoài bụi bặm (của cuộc đời). Thầy tôi cho đó là lời nói vu vơ, còn tôi, thì lại cho đó là cái hạnh của kẻ đã nhập diện nơi Đạo rồi vậy. Ý ông như thế nào?

Trường Ngô nói:

- Đó là điều mà Hoàng đế nghe còn nghi ngờ thay, ông Khưu làm gì đủ để mà hiểu được. Vả, ngươi cũng đoán hơi sớm lắm: vừa thấy trứng gà là đã mong được nghe tiếng gà gáy, vừa thấy viên đạn là đã mong được ăn chim nướng. Nay ta thử vì ngươi nói bậy mà nghe, còn ngươi cũng nghe bậy mà chơi. Làm thế nào để dựa kề nhật nguyệt, nhập cùng vũ trụ, xáo trộn cả thị phi, quý tiện, vượt muôn tuổi mà ôm giữ cái chỗ thuần nhất bất biến.
H. Hiểu tận vạn vật rồi, mới thấy nó thuần nhất. Ta sao biết ham sống chẳng phải là lầm? Ta sao biết sợ chết lại chẳng là mê, mà không biết cho đó là con đường về?

Lệ Cơ, con của một vị phong nhân xứ Ngại, gả cho Vua nước Tấn. Khi về nhà chồng, lụy ướt đầm bâu. Kịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi sô hoạn, rồi lại hối hận giọt lệ ngày xưa. Ta biết đâu kẻ chết lại không hối hận vì mình đã mong được sống thêm?

Có kẻ chiêm bao cười giữa tiệc, tỉnh giấc khóc trong lòng. Hoặc chiêm bao buồn khóc, khi tỉnh giấc như vui săn. Lúc chiêm bao không biết chiêm bao, khi tỉnh giấc mới hay là mộng cả. Chỉ có bậc đại giác mới biết cuộc đại mộng đó thôi. Nhưng mà kẻ ngu lại tự cho họ là tỉnh, rồi họ cũng tin thật rằng họ là bậc vua chúa, hay họ là kẻ chăn ngựa! Gàn thay, ông Khưu cùng ngươi đều chiêm bao cả! Lời nói ấy, gọi là lời “điếu quỷ” (quái gở)! Sau muôn đời, may mà gặp được bậc đại thánh biết cách giải nghĩa của nó ra, thì trong một sớm một chiều sẽ ngộ nó được vậy.

Nếu ta nói với ngươi, cùng tranh biện: ngươi thắng được ta, ta không thắng được ngươi, vậy ngươi hẳn là đã phải, mà ta hẳn là đã quấy chưa? Nếu ta thắng được ngươi; ngươi không thắng được ta, vậy ta hẳn là đã phải, mà ngươi hẳn đã là quấy chưa? Hay là, khi thì phải, khi thì quấy hay sao? Hay là, cả hai chúng ta đều phải cả, hoặc cùng quấy cả hay sao? Ta và ngươi không thể biết được nhau, thì người người đành phải chịu tối tăm rồi! Ta phải nhờ ai chính lại việc ấy? Nhờ kẻ đồng với ngươi thì làm sao chính được việc đó! Cậy người đồng với ta để chính lại việc đó ư? Nó đã đồng với ta thì làm sao chính được việc đó? Cậy người khác với ta và khác với ngươi, để chính lại việc đó ư? Nó đã khác với ta và khác với ngươi, thì làm sao chính lại được việc đó? Cậy người đồng với ta và đồng với ngươi để chính lại việc đó ư? Nó đã đồng với ta và đồng với ngươi thì làm sao chính được việc đó? Vậy thì ta với ngươi cùng với người đó đều không thể biết nhau được, sao phải chờ người đó làm gì?

Sao gọi là hòa hợp với thiên nghê? Là phải mà cũng là chẳng phải; phải vậy mà cũng là chẳng phải vậy. Cái phải của ngươi, nếu quả thực là phải, thì cái phải đó có khác gì cái không phải, cho nên cũng không biện được. Cái phải vậy của ngươi, nếu quả thực là phải vậy, thì cái phải vậy đó có khác gì cái không phải vậy, thành ra cũng không biện được. Hóa ra thảy đều là đối đãi, nếu muốn không đối đãi chi bằng hòa hợp với tự nhiên (thiên nghê), nhân đó mà lời nói của ta đặng vĩnh cửu. Quên sống chết, quên phải quấy là suốt thông lẽ hư vô (vô cảnh), nên gửi mình vào cõi hư vô (vô cảnh).

I. Bóng lu hỏi bóng tỏ: “Nãy anh đi, giờ anh đứng. Nãy anh ngồi, giờ anh dậy. Sao anh không có nết riêng?”
Bóng tỏ nói: ta có phải nương chờ mà như thế chăng? Hay là chỗ ta nương chờ lại còn phải nương chờ nơi chỗ khác mà như thế chăng? Ta phải nương chờ, như vảy rắn cánh ve chăng? Sao biết sở dĩ nó là thế? Sao biết sở dĩ nó không phải là thế?

K. Xưa Trang-Châu chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Châu. Không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Châu? Châu và bướm ắt phải có tánh phận khác nhau. Đó gọi là Vật hóa.

A. Nam Quách Tử Kỳ ngồi dựa ghế, ngửa mặt hà hơi, bơ phờ như người mất hồn.

Nhan Thành Tử Du đứng hầu trước mặt, thấy vậy, hỏi: “Sao mà hình hài có thể khiến được như cây khô, còn lòng thì có thể khiến được như tro lạnh? nay người ngồi trên ghế có còn phải là người ngồi trên ghế trước đây nữa không?”

Tử kỳ nói: “Yển! Câu hỏi của ngươi đâu phải là không đúng! ta nay đã mất bản ngã rồi, ngươi có biết chăng? Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của người mà chưa nghe tiếng sáo của đất. Ngươi chỉ nghe tiếng sáo của đất mà chưa nghe tiếng sáo của trời.”

Tử Du nói: “Dám hỏi dùng phương chi nói để cho tôi hiểu được?”

Tử Kỳ nói: “Hơi thở của đại khối, gọi là gió. Nó không nổi lên thì thôi. Nó mà nổi lên thì muôn lỗ hổng gào thét lên, riêng ngươi chẳng nghe nó ào ào đó hay sao? Mấy chỗ sâu hõm của núi rừng, những bọng của cây to trăm vòng, như mũi, như miệng, như tai, như xà, như vành, như cối, như ao sầu, như vũng cạn… khi thì rập nhau la lối, nạt nộ, gầm thét, khi lại bỏ giọng rù rì, nỉ non, than thở. Tiếng trước xướng lên, tiếng sau họa lại. Gió hiu hiu thì là tiểu hòa; gió vụt vụt thì là đại hòa. Đến khi gió lặng, thì các khiếu đều êm. Riêng ngươi không thấy cành lá còn rung động đó hay sao?”
Tử Du nói: “Tiếng sáo Đất là tiếng hòa của muôn khiếu. Tiếng sáo của người là tiếng hòa của ống trúc. Dám xin hỏi thế nào là tiếng sáo của Trời?”

*

B. Tử Kỳ nói: “Kìa như gió thổi khiến muôn tiếng không đồng nhau vang lên, nhưng mà lại khiến cho nó tự ngưng đi, hoặc tự nổi lên, là gì đấy? Biết một cách bao trùm rộng rãi, đó là hạng đại trí; biết một cách chia lìa vụn vặt, đó là hạng tiểu trí. Lời nói tổng hợp thị phi; đó là đại ngôn, lời nói chi li biện-biệt, đó là tiểu ngôn. Khi ngủ thì tinh thần giao nhau (làm một). Khi thức, thì tinh thần bị ly khai (vì chạy theo sự vật bên ngoài). Tiếp lẫn nhau, gọi là “cấu” (hợp nhau làm một); tán mạn ra, gọi là “tâm đấu” (lòng bị chia lìa chống đối nhau). Lòng phải rộng, sâu và dè dặt. Dè dặt là cái nhỏ mà phân biệt sanh, tử; dè dặt cái lớn là xem sanh tử bằng nhau. Người đời bày cuộc bắn bia mà định thị phi, bày tờ khế ước mà phân thắng bại. Lòng người mãn tranh đấu cho thị phi lần đầu hao mòn, bị giết như thu đông giết thảo mộc. Họ đắm đuối trong việc làm đó, không làm sao cho lòng họ phục nguyên lại được. Đè nén như giam nhốt, như đè nén lời nói . Cái lòng gần chết, không sao khiến nó nóng lại được.

Nhưng mà mừng giận, thương vui, phản phúc, kinh sợ, phù phiếm, phóng túng, tình dục mở rộng… đều như tiếng nhạc do chỗ hư không mà phát lên, như đám nấm trong chỗ ẩm ướt mà sanh ra. Ngày và đêm, tiếp nhau mà hiện ra trước mặt, ai biết được đầu mối nó nơi đâu? Ôi! Ôi! Một sớm một chiều, ai biết được từ đâu mà sanh ra?

Không có đó, không có đây. (Nhưng nếu) không có đây thì biết lấy đâu làm chỗ căn cứ! Lý ấy đâu có xa xôi gì! Nhưng mà không rõ ai xui như thế? Dường như có đấng Chân-tể, nhưng mà không thấy được dấu vết của Đó. Đấng ấy có tình mà không có hình. Trăm xương chín khiếu, sáu tạng, riêng biệt ra thì không thành một thân thể; nên phải có cái “hiệp” nó lại kia mới thành một thân thể được. Thần thiếp riêng biệt ra, không đủ sức trị lẫn nhau nên không thể thành một môn hộ; nên phải có cái hiệp nó lại, mới thành một môn hộ, quân thần riêng biệt ra thì không thành một quốc gia, nên phải có cái “hiệp”cả hai lại mới thành một quốc gia. Cái mà hiệp đặng làm nên một thân thể, một môn hộ, một quốc gia, “cái đó” không bớt, cũng không thêm cho thân thể, cho môn hộ, cho quốc gia, ta gọi nó là “Tình”. Có kẻ nhận cái “hình” do đó gây ra, không quên cho đến ngày cùng tận của nó, rồi đâm chém nhau, hại lẫn nhau, mà không biết dừng, chẳng cũng đáng buồn sao? Có kẻ trọn đời làm mãi mà không thấy thành công, mệt mỏi mà không biết đâu là chỗ về, cũng chẳng đáng thương xót sao? Người ta bảo như thế mà không chết có ích gì không? Hình nó hóa đi, tâm nó cũng một thế, cũng chẳng đáng xót xa lắm sao?

Đời người mờ mịt, há phải riêng ta mờ mịt, còn kẻ khác không mờ mịt hay sao? Như biết lấy cái tâm đã thành của mình làm Thầy, thì ai là chẳng có Thầy? Cái tâm thành đã sẵn có, sao còn tìm cái chi nữa mà thế nó? Kẻ ngu cũng có nó. Chưa thành được mà lòng đã có chứa thị phi, thì có khác nào hôm nay sang nước Việt mà đã đến từ hôm trước rồi! Như vậy, tức là lấy cái không có làm cái có. Lấy cái không có làm cái có, thì tuy có Thần Võ cũng không biết được, riêng ta có làm thế nào được!
C. Lời, không phải như gió thổi: Lời phải có nói lên một cái gì. Nếu chỗ nói của nó mà chưa định, thì lời nói ấy quả đã có nói không. Hay là chưa có nói gì cả? Lời nói chưa định ấy, khác nào tiếng chim con: chưa có biết biện biệt hay không biện biệt? Đạo, sao dựa vào chân hay ngụy; lời, sao dựa vào thị hay phi? Đạo, sao qua mà không còn; lời, sao còn mà chẳng nói được? Đạo, ẩn trong tiểu thành; lời, ẩn nơi vinh hoa. Bởi vậy mới có cái phải, quấy của Nhu Mặc. Nhu Mặc thì lấy Phải làm Quấy, lấy Quấy làm Phải. (Nhưng) nếu muốn thấy được cái Phải trong cái Quấy, cái Quấy trong cái Phải, thì không có gì bằng dùng đến ánh sáng (của Đạo). Vật, không vật nào là không phải “đó”, không vật nào là không phải “đây” . Lấy chỗ nhận thấy của người mà thấy, thì không thấy; lấy chỗ biết của mình mà biết, thì mới biết. Nên mới có nói rằng: “Đó”, do đây mà ra; “đây”, nhân “đó” mà có. “Đó đây”, ấy là thuốc của “phương sinh”. Nên mới có nói Sống, nói Chết, nói Chết, nói Sống, nói được, nói không được, nói không được, nói được. Nhân có Phải, nhân có Quấy; nhân có Quấy, nhân có Phải (mà cãi nhau).

Thánh nhân thì không căn cứ vào Phải Quấy, mà căn cứ vào khiếu biết tự nhiên của mình để hiểu mọi vật. Và cũng do “đây”trước. “Đây”, cũng là “Đó”, mà “Đó” cũng là “Đây”. “Đó” cũng có một lẽ Phải Quấy của “Đó”; mà “Đây” cũng có một cái lẽ phải quấy của “Đây”. Quả có “đó đây” chăng? Quả chẳng có “đó đây” chăng? Đó và Đây mà không gặp chỗ lứa đôi (đối-đãi) của nó, thì gọi là Cốt Đạo (Đạo Xu). Cốt ấy khởi đầu nơi trung tâm của cái vòng tròn (hoàn trung), và căn cứ vào đó để mà ứng đối vô cùng (với Thị Phi). Phải, cũng là một cái lẽ vô cùng. Quấy, cũng là một cái lẽ vô cùng . Bởi vậy mới nói: đâu bằng dùng lấy ánh sáng của Đạo.

Lấy ngón tay mà thí dụ rằng ngón tay không phải là ngón tay, sao bằng lấy cái không phải là ngón tay để mà thí dụ rằng ngón tay không phải là ngón tay.

Lấy con ngựa mà thí dụ rằng con ngựa không phải là con ngựa, sao bằng lấy cái không phải là con ngựa để mà thí dụ rằng con ngựa không phải là con ngựa. Trời Đất khác nào ngón tay nói trên. Vạn vật khác nào con ngựa nói trên.

Được là được. Không được là không được. Con đường có đi mới thành đường đi, vật có gọi được tên mới thành là vật. Sao là phải vậy? Phải vậy là vì phải vậy. Sao là không phải vậy? Không phải vậy, là vì không phải vậy. Vật, có chỗ là phải vậy. Vật, có chỗ là được vậy. Không vật nào là không phải vậy; không vật nào là không được vậy. Cho nên mới có so sánh cọng cỏ với cột trụ, một người đàn bà xấu xí với Tây Thi; khoan đại, kỳ biến, gian trá, quái dị, thảy đều là một.

Có phản “nó” ra thì “nó” mới “thành”. Có “thành” thì mới có “hoại”. Phàm vật mà không “thành”, nên không “hoại” thì mới có thể “trở về”mà cùng thông với lẽ Một (của Đạo). Chỉ có bậc đạt Đạo mới thông hiểu được lẽ Một ấy mà thôi: Họ dùng đỡ cái dung mạo (bên ngoài) để hòa với mọi người. “Dung”, tức là “dụng”; “dụng”, tức là “thông”. Mà “thông”, tức là “đắc” vậy. Vui trong chỗ “đắc” ấy, ít ai được. Nhân tới đó mà “thôi đi”. “Thôi đi”, mà cũng không cần phải biết vì sao mà phải vậy, thì gọi là Đạo. Lao nhọc thần minh vì chấp nhất (trong một cái Phải hay cái Quấy nào) mà không biết trông thảy đều đồng nhau. Nên mới gọi là “sớm ba”.

Sao gọi là “sớm ba”? Có lão nuôi khỉ, phát khoai cho khỉ, nói: “Sớm ba, mà chiều bốn!” Khỉ đều giận. Lão lại nói: “Thôi, sớm bốn mà chiều ba”! Khỉ đều mừng. Số cho không thay đổi, danh và thực không thiếu, vậy mà, cái dụng ý của nó lại có mừng có giận. Bởi vậy, bậc Thánh nhân, vì sự hòa bình mà phải nói đến thị hay phi, rồi đứng yên ở cốt trục của “bánh xe Trời” (Thiên Quân): đó gọi là “lưỡng hành”.

D. Người xưa, cái biết của họ có chỗ cùng cực. Sao gọi là cùng cực? Có kẻ cho rằng thuở ban đầu chưa hề có vật gì cả, đó là một chủ trương cực đoan cùng tận, không thể còn nói gì thêm được nữa. Có kẻ thì cho rằng đã có vật rồi, nhưng vật ấy chưa từng chia phân. Lại cũng có kẻ cho rằng đã có vật rồi, nhưng vật ấy đã lại có chia phân. Thị Phi mà bị chia phân rõ rệt ra rồi, thì Đạo mới có chỗ khuyết. Đạo mà có chỗ “khuyết” (vì không đủ) mới có tạo thành ra chữ “ái” (để mà hòa hợp lại). Quả có “khuyết” có “ái” chăng? Quả không có “khuyết”, không có “ái” chăng? Bởi thấy có “khuyết” có “ái”, họ Chiêu mới khảy cầm. Không có “khuyết” có “ái” thì họ Chiêu khảy cầm làm chi?

Có Chiêu văn khảy cầm, Sư Khoáng mới lập luật định ngũ âm, Huệ tử mới giảng âm luật. Chỗ biết của ba người này có là bao nhiêu mà thiên hạ đều hoan nghênh cho đến đời cuối cùng này mà luật ấy hãy còn thịnh hành? Chỗ ưa thích của họ đâu có giống với chỗ ưa thích của chúng nhân. Muốn đem cái chỗ không sáng của mình mà soi sáng cho kẻ khác, nên suốt đời cam chịu tối tăm vì câu chuyện “kiên bạch”. Họ thử đem ngón đàn hay của họ mà truyền dạy cho con họ, trọn đời biết có truyền dạy được không! Nếu mà họ truyền đạt được, thì ta đây cũng truyền dạy được. Bằng họ truyền dạy không đặng, thì ta đây cũng truyền dạy không được. Cho nên chỗ mà bậc thánh nhân mong mỏi là được ở trong cái ánh sáng mập mờ (của cái nhìn tổng quát hỗn hợp), không dùng phép tắc của ai cả, chỉ dùng cái lý thông thường của mọi người để xử sự với đời. Đó gọi là mượn lấy ánh sáng của người vậy.

Đ. Ví như nay có người hỏi rằng: không rõ chữ “đó” có giống với chữ “đây” chăng; hay không giống với chữ “đây” chăng? Giống và không giống, hay cùng là một giống với nhau, thì là bên này không có gì khác với bên kia nữa. Tuy vậy, còn có nhiều danh từ thông thường mà ý nghĩa tương phản, ta cũng cho nó giống nhau được nữa chăng? Như những danh từ sau đây: “hữu thủy”, “hữu vị thủy hữu thủy”, “hữu vị thủy hữu phù vị thủy”, “hữu hữu”, “hữu vô”, “hữu vị thủy hữu vô”, “hữu vị thủy hữu phù vị thủy hữu vô”. Thoạt trông qua mà “có” là đã “không” rồi, nhưng cũng chưa rõ là có hay không? Và quả có cái gì là có, có cái gì là không hay chăng? Nay thì ta cũng đã có nói rồi, nhưng chưa biết rõ điều ta nói đó quả đã có nói không, hay chưa có nói không?

Dưới trời không có gì lớn bằng cọng lông mùa thu, mà không có gì nhỏ bằng núi Thái; không có gì thọ bằng đứa bé chết yểu, mà không có gì yểu bằng ông Bành Tổ.

Trời Đất cùng ta đồng sinh, và vạn vật cùng ta là một. Đã là một rồi, thì nói ra có được không? Đã gọi là một rồi, thì không nói ra có được không? Một và lời là hai. Hai với một là ba. Từ ba trở lại một, bậc gọi là xảo lịch còn không hiểu được thay, huống chi là kẻ tầm thường! Cho nên, từ chỗ “không” mà sang chỗ “có”, còn phải đến số ba, huống chi từ chỗ có mà sang chỗ có? Không phải sang qua đâu cả, chỉ nên theo chỗ có đấy là đủ.

Vả, Đạo chưa hề có khu vực; lời nói chưa hề có định thức. Có cho đây là Thị, thì mới có sự chia phân thị với phi thành từng khu vực. Vậy, xin bàn về khu vực ấy: có mặt, có trái, có luận, có nghĩa, có phân, có chia, có cạnh, có tranh, đó gọi là “bát thức”. Phần ngoài của “lục hợp”, thánh nhân để yên mà không luận đến. Phần trong của “lục hợp”, thánh nhân luận đến mà không bàn. Lịch sử đời Xuân Thu của các Tiên vương, thánh nhân bàn đến mà không chê khen biện luận. Cho nên tuy có phân chia mà không phân chia; biện bác mà không biện bác. Sao vậy? Là vì thánh nhân thì ôm giữ, chúng nhân thì biện bác để mà khoe khoang. Nên mới có lời nói này: “hay biện phân, thì có chỗ không thấy rõ được”. Vả, “đại Đạo” thì không xưng tên; “đại biện” thì không có lời; “đại nhân” thì không thương ai; “đại liêm” thì không nhún nhường; “đại dũng” thì không làm hại ai. Đạo mà sáng thì không phải Đạo; lời mà rõ ràng thì không tới chốn, nhân mà thường thì không nên việc; liêm mà thanh thì không thể tin; dũng mà hại người thì không nên việc. Năm điều ấy tròn mà thành vuông. Cho nên, biết dừng chỗ mà mình không thể biết, là đến chốn rồi vậy. Có ai biết được cách biện biệt mà không dùng đến lời, nói mà không cần phải nói ra lời? Nếu có kẻ biết được, kẻ ấy gọi là “Thiên phủ” (kho trời) đổ vô mãi mà không đầy, rót ra mãi mà không cạn, nhưng không biết do đâu mà đến. Nên mới gọi là “che ánh sáng” (bảo quang).

Cho nên ngày xưa Nghiêu hỏi Thuấn:

- “Ta muốn phạt Tông, Khoái, Tư Ngao, ngảnh mặt sang Nam mà không thấy lòng khoan khoái. Như thế là cớ làm sao?”

Thuấn nói:

- “Như ba người ấy (vua của ba nước ấy) khác nào sống ở giữa cỏ bồng cỏ ngãi. Nhà Vua sao lại không thấy lòng khoan khoái? Xưa kia, mười mặt trời cùng mọc, muôn vật đều được soi sáng, huống chi cái Đức của người còn hơn mặt trời!”

E. Khiết Khuyết hỏi Vương Nghê:

- Ông biết chỗ đồng phải giống nhau của mọi vật không?

- Ta biết đâu việc đó.

- Ông biết chỗ mà ông không biết không?

- Ta biết đâu việc đó.

- Vậy thì, mọi vật, cũng không biết gì cả hay sao?

- Ta biết đâu việc đó. Tuy vậy, ta thử nói xem sao. Biết đâu cái mà ta gọi là biết, lại chẳng phải là cái mà ta không biết? Biết đâu cái mà ta gọi là không biết lại chẳng phải là cái mà ta biết? Vả, ta đã từng thử hỏi ngươi: người nằm trong chỗ ẩm thấp thì sanh ra đau lưng và tê liệt một bên mình; con cá chạch thì có sao không? Người ở trên cây run rẩy sợ sệt; còn loài khỉ vượn thì có sao không? Ba loài ấy, ai biết chỗ ở nào là chỗ ở chính? Con người thì ưa ăn thịt thà, hươu nai thì thích ăn cỏ non; rết thì cho rắn con là ngon; chim mèo chim cú thì nghiện ăn chuột bọ. Bốn loài ấy, ai biết vị ăn nào là chính vị? Vượn và khỉ theo với nhau, nai và hươu cùng với nhau, chạch và cá lội với nhau. Mao Tường, Lệ Cơ, người thấy thì cho là đẹp, mà cá thấy thì lặn sâu, chim thấy thì bay cao, hươu nai thấy thì chạy dài. Bốn loài ấy, ai biết sắc đẹp nào là chính sắc trong thiên hạ?

Tự mà xem, thì đầu mối của nhân nghĩa, đường nẻo của thị phi rối loạn lung tung, ta làm sao biết đâu mà phân biện.

Khiết Khuyết nói: “Ông không biết lợi hại, còn bậc chí nhân cũng không biết lợi hại nữa hay sao?”

Vương Nghê nói: “Chí nhân là bậc thần: chầm lớn cháy, không thể làm cho đó nóng, sông Hà sông Hán đặc mà không thể làm cho đó lạnh; sét đánh vỡ núi; gió dậy biển cả cũng không làm cho đó sợ. Người như thế thì theo hơi mây, cỡi mặt trời mặt trăng mà rong chơi ngoài bốn biển, chết sống còn không làm cho người họ điên đảo phương chi là mối lợi hại?”
G. Cù Thước hỏi Trường Ngô:

- Tôi nghe nơi ông rằng thánh nhân không bận đến việc đời; không tìm lợi; không lánh hại; không tha thiết đến việc gì; cũng không quấn quít với Đạo; có nói (mà như) không có nói; không nói (mà như) đã nói; tha hồ rong chơi ngoài bụi bặm (của cuộc đời). Thầy tôi cho đó là lời nói vu vơ, còn tôi, thì lại cho đó là cái hạnh của kẻ đã nhập diện nơi Đạo rồi vậy. Ý ông như thế nào?

Trường Ngô nói:

- Đó là điều mà Hoàng đế nghe còn nghi ngờ thay, ông Khưu làm gì đủ để mà hiểu được. Vả, ngươi cũng đoán hơi sớm lắm: vừa thấy trứng gà là đã mong được nghe tiếng gà gáy, vừa thấy viên đạn là đã mong được ăn chim nướng. Nay ta thử vì ngươi nói bậy mà nghe, còn ngươi cũng nghe bậy mà chơi. Làm thế nào để dựa kề nhật nguyệt, nhập cùng vũ trụ, xáo trộn cả thị phi, quý tiện, vượt muôn tuổi mà ôm giữ cái chỗ thuần nhất bất biến.
H. Hiểu tận vạn vật rồi, mới thấy nó thuần nhất. Ta sao biết ham sống chẳng phải là lầm? Ta sao biết sợ chết lại chẳng là mê, mà không biết cho đó là con đường về?

Lệ Cơ, con của một vị phong nhân xứ Ngại, gả cho Vua nước Tấn. Khi về nhà chồng, lụy ướt đầm bâu. Kịp khi đến hoàng cung, cùng vua đồng sàng, nếm mùi sô hoạn, rồi lại hối hận giọt lệ ngày xưa. Ta biết đâu kẻ chết lại không hối hận vì mình đã mong được sống thêm?

Có kẻ chiêm bao cười giữa tiệc, tỉnh giấc khóc trong lòng. Hoặc chiêm bao buồn khóc, khi tỉnh giấc như vui săn. Lúc chiêm bao không biết chiêm bao, khi tỉnh giấc mới hay là mộng cả. Chỉ có bậc đại giác mới biết cuộc đại mộng đó thôi. Nhưng mà kẻ ngu lại tự cho họ là tỉnh, rồi họ cũng tin thật rằng họ là bậc vua chúa, hay họ là kẻ chăn ngựa! Gàn thay, ông Khưu cùng ngươi đều chiêm bao cả! Lời nói ấy, gọi là lời “điếu quỷ” (quái gở)! Sau muôn đời, may mà gặp được bậc đại thánh biết cách giải nghĩa của nó ra, thì trong một sớm một chiều sẽ ngộ nó được vậy.

Nếu ta nói với ngươi, cùng tranh biện: ngươi thắng được ta, ta không thắng được ngươi, vậy ngươi hẳn là đã phải, mà ta hẳn là đã quấy chưa? Nếu ta thắng được ngươi; ngươi không thắng được ta, vậy ta hẳn là đã phải, mà ngươi hẳn đã là quấy chưa? Hay là, khi thì phải, khi thì quấy hay sao? Hay là, cả hai chúng ta đều phải cả, hoặc cùng quấy cả hay sao? Ta và ngươi không thể biết được nhau, thì người người đành phải chịu tối tăm rồi! Ta phải nhờ ai chính lại việc ấy? Nhờ kẻ đồng với ngươi thì làm sao chính được việc đó! Cậy người đồng với ta để chính lại việc đó ư? Nó đã đồng với ta thì làm sao chính được việc đó? Cậy người khác với ta và khác với ngươi, để chính lại việc đó ư? Nó đã khác với ta và khác với ngươi, thì làm sao chính lại được việc đó? Cậy người đồng với ta và đồng với ngươi để chính lại việc đó ư? Nó đã đồng với ta và đồng với ngươi thì làm sao chính được việc đó? Vậy thì ta với ngươi cùng với người đó đều không thể biết nhau được, sao phải chờ người đó làm gì?

Sao gọi là hòa hợp với thiên nghê? Là phải mà cũng là chẳng phải; phải vậy mà cũng là chẳng phải vậy. Cái phải của ngươi, nếu quả thực là phải, thì cái phải đó có khác gì cái không phải, cho nên cũng không biện được. Cái phải vậy của ngươi, nếu quả thực là phải vậy, thì cái phải vậy đó có khác gì cái không phải vậy, thành ra cũng không biện được. Hóa ra thảy đều là đối đãi, nếu muốn không đối đãi chi bằng hòa hợp với tự nhiên (thiên nghê), nhân đó mà lời nói của ta đặng vĩnh cửu. Quên sống chết, quên phải quấy là suốt thông lẽ hư vô (vô cảnh), nên gửi mình vào cõi hư vô (vô cảnh).

I. Bóng lu hỏi bóng tỏ: “Nãy anh đi, giờ anh đứng. Nãy anh ngồi, giờ anh dậy. Sao anh không có nết riêng?”
Bóng tỏ nói: ta có phải nương chờ mà như thế chăng? Hay là chỗ ta nương chờ lại còn phải nương chờ nơi chỗ khác mà như thế chăng? Ta phải nương chờ, như vảy rắn cánh ve chăng? Sao biết sở dĩ nó là thế? Sao biết sở dĩ nó không phải là thế?

K. Xưa Trang-Châu chiêm bao thấy mình là bướm, vui phận làm bướm, tự thấy thích chí, không còn biết có Châu nữa. Chợt tỉnh giấc, thì lại thấy mình là Châu. Không biết Châu chiêm bao là bướm, hay bướm chiêm bao là Châu? Châu và bướm ắt phải có tánh phận khác nhau. Đó gọi là Vật hóa.

Tiêu diêu du

 
A. Tại biển Bắc có con cá Côn, lớn không biết mấy nghìn dặm. Cá này hóa ra chim Bằng: lưng của chim Bằng lớn cũng không biết mấy nghìn dặm. Vỗ cánh mà bay, cánh nó sè ra như mây che rợp một phương trời. Biển động, Bằng bèn bay sang biển Nam: biển Nam là Ao-Trời.

Tề Hải, sách chép các việc kỳ quái nói: chim Bằng, lúc bay qua biển Nam, cánh đập làm cho sóng nước nổi lên ba nghìn dặm dài; nó nương theo gió trốt mà cất lên chín muôn dặm cao, và bay luôn sáu tháng mới nghỉ.

Cái mà ta thấy trên không kia có phải là bầy “ngựa rừng” chăng, hay là bụi trần? Hay là cái hơi thở của muôn vật nổi lên? Còn màu trời xanh xanh kia có phải là màu thật của nó không, hay chỉ là màu của vô cùng thăm thẳm? Thì cái thấy của con chim Bằng bay trên mây xanh dòm xuống dưới đây cũng chỉ như thế mà thôi.

Vả lại, nước không sâu thì không sức chở thuyền lớn. Đổ một chung nước nhỏ vô một cái hủng nhỏ trong nhà, lấy một cọng cỏ thả lên làm thuyền, thì thuyền tự nổi; nếu lại lấy cái chung ấy làm thuyền mà thả lên, thì thuyền phải trịt. Là tại sao? Tại nước không sâu mà thuyền thì lớn. Cũng như lớp gió không dầy thì không đủ sức chở nổi cánh lớn của chim Bằng. Bởi vậy chim Bằng khi bay lên chín muôn dặm cao là cỡi lên lớp gió ở dưới nó. Chừng ấy, lưng vác trời xanh, không gì ngăn trở, nó bay thẳng qua Nam.

*

Một con ve và một con chim cưu nhỏ thấy vậy, cười nói: “Ta quyết bay vụt lên cây du, cây phương. Như bay không tới mà có rơi xuống đất thì thôi, chứ không sao! Bay cao chín muôn dặm, sang qua Nam mà làm gì? Ta thích bay đến mấy cánh đồng gần đây, ăn ba miếng no bụng, rồi về. Nếu ta đến chỗ xa trăm dặm, thì ta có lương thực mỗi ngày. Còn nếu ta đến chỗ xa nghìn dặm, thì ta có ba tháng lương thực.”

Hai con vật ấy, mà biết gì?

Kẻ tiểu trí sao kịp người đại trí. Kẻ tuổi nhỏ sao kịp người tuổi lớn.

Sao mà biết được thế? Nấm mai biết gì được hồi sóc, ve sầu biết sao được xuân, thu! Đó đều là hạng tuổi nhỏ cả. Phương Nam nước Sở có cây minh-linh, sống một xuân là năm trăm năm; một thu là năm trăm năm. Thượng cổ có cây đại-xuân sống một xuân là tám nghìn năm, một thu là tám nghìn năm. (Đó là hạng tuổi lớn). Lâu nay từng nghe danh sống lâu của Bành tổ. Hễ nói đến sống lâu, thì người đời thường đem đó mà so sánh, như thế không đáng buồn sao?
B. Lời ông Thang hỏi ông Cấc, cũng thế. Miền Bắc hoang lạnh có cái biển gọi là Minh-hải, tức là Ao Trời. Có con cá lớn tới mấy nghìn dặm, chưa ai biết nó dài đến bao nhiêu, tên là Côn. Có con chim, tên là Bằng, lưng như núi Thái, cánh tợ vừng mây che một phương trời. Chim nầy theo gió trốt cuộn như sừng dê mà lên chín muôn dặm cao, tuyệt bóng mây-mù, đội trời xanh biếc, bấy giờ nó mới bay về biển Nam. Một con chim ở hồ nhỏ cười nói: đó bay chi cao xa lắm vậy? Ta bay nhảy bất quá vài chục thước cao, ngao du trong đám cỏ bồng cỏ hao. Bay đến thế cũng là đúng mực lắm rồi. Còn đó bay chi cao xa lắm vậy?

Đó là chỗ phân biệt giữa lớn và nhỏ.
C. Cho nên, kẻ có tài trí đủ làm nổi một tước quan, hạnh hơn cả một làng, (thì) đức (sẽ) không khác nào một vị vua được lòng tin của cả nước, (nếu biết) tự xem như đấng làm vua kia vậy.

Nhưng Vinh-tử nước Tống lại còn cười chê đó. Vả, đời có khen cũng không khích lệ, mà đời có chê cũng không ngăn đón được: họ đã định rõ cái phận của trong ngoài, phân biệt cái cảnh của vinh nhục rồi đấy. Trong đời, hạng người như thế cũng dễ thường thấy có. Tuy vậy, đức của họ cũng chưa được vững.

Liệt-tử cưỡi gió mà đi, đi một cách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và người như ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi phải đi, nhưng còn chỗ phải chờ.

Đến như thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục khí mà dong chơi trong cõi vô cùng: thì đó đâu còn phải chờ đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng: bậc chí nhơn không thấy có mình, bậc thần nhơn không nhớ đến công mình, bậc thánh nhơn không nghĩ đến tên mình.

D. Vua Nghiêu muốn nhường thiên hạ cho Hứa-Do, nói: Mặt trời mặt trăng đã mọc, mà không dụt đuốc, nhìn bóng đuốc há chẳng khó coi lắm sao? Mưa mùa đã đổ xuống, mà còn đi tưới nước, thế là chẳng lao công vô ích hay sao? Nay nếu phu tử lên ngôi, thiên hạ ắt được trị. Tôi còn ngồi làm thần tượng chi nữa. Tôi tự thấy rất kém. Vậy, xin mời ngài lên trị thiên hạ.

Hứa Do nói: Ngài trị thiên hạ, thì thiên hạ được trị. Tôi còn thế Ngài làm chi, tôi cầu danh hay sao? Danh là khách của Thật. Tôi muốn làm khách sao? Chim tiêu liêu đậu ở rừng sâu, chẳng qua một nhánh là vừa. Chuột đồng uống nước sông dài, chẳng qua đầy bụng là đủ. Xin trả lại cho ngài đó. Thiên hạ ấy, tôi không dùng làm gì cả. Người đầu bếp dù không xong việc bếp, người chủ tế cũng không vượt phận mà thế cho đó được.

E. Kiến Ngô nói với Liên-Thúc: Tôi nghe Tiếp Dư nói chuyện lớn lác không tưởng, có lối đi mà không có lối về… khiến tôi kinh sợ, ông nói như sông Hà sông Hán không cùng tận, rất là xa xôi, không cận với nhân-tình… Liên Thúc hỏi: “Nối những gì?” - ”Nói rằng trên núi Diễu-Cô Tạ có thần nhơn ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa. Tôi cho đó là lời nói cuồng, nên không tin.”

Liên Thúc nói: “Phải! Kẻ đui lấy gì để xem thấy được cái đẹp của văn-hoa: kẻ điếc lấy gì để nghe được tiếng chuông tiếng trống. Há chỉ có hình hài mới có đui điếc đâu… trí cũng có đui điếc. Theo lời nói ấy thì ngươi nay cũng thế. Kể như người ấy, đức ấy cùng vạn vật hỗn hợp làm Một, thì đời dầu có cầu ra trị loạn, họ cũng đâu chịu đi làm cái việc của thiên hạ. Người ấy không vật nào hại đặng. Nước cả đụng trời mà không làm họ chết chìm được, nắng cả chảy mềm sắt đá, cháy núi thiêu đất cũng không làm cho họ chết nóng được. Đồ bụi bặm, cặn bã của thần nhơn ấy cũng đúc thành được hạng người của Nghiêu Thuấn. Ai đâu lại khứng đi làm công việc cho ngoại vật!

Người nước Tống buôn mũ Chương phủ, sang nước Việt. Người nước Việt thì cắt tóc ngắn và xăm mình, không dùng mũ ấy làm gì. Nghiêu trị trăm họ trong thiên hạ, bình trị được trong nước, bèn sang qua núi Diễu-Cô Tạ để ra mắt bốn Thầy. Họ có cái vẻ sâu xa làm sao mà Nghiêu quên mất thiên hạ của mình.

G. Huệ-tử gọi Trang-tử, nói: Ngụy vương tặng tôi một giống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng đến năm thạch. Dùng nó đựng nước, nó nặng, không cất nhắc được. Bổ nó ra làm cái bầu, thì lại không còn dùng được chỗ nào. Đâu phải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô dụng nên tôi đập bỏ nó.

Trang-tử nói: Thế là phu tử vụng về chỗ đại dụng nó. Nước Tống có người khéo chế được môn thuốc chữa răn nứt da tay, đời đời chuyên làm nghề ươm tơ. Có người hay biết, đến xin mua phương thuốc đó một trăm lượng vàng. Anh ta bèn nhóm thân-tộc bàn rằng: “Nhà ta đời đời làm nghề ươm tơ, lợi không hơn số vàng đó. Nay một mai mà được trăm vàng, xin để cho bán.”

 Người khách được phương thuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước Việt có nạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa đông, thủy chiến với người Việt, người Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt đất mà phong thưởng anh ta.

Cũng thời cùng một phương thuốc trị răn nứt da tay mà một người được thưởng phong, một người không ta khỏi cái nghề ươm tơ: đó là tại chỗ biết dùng mà khác nhau vậy.

Nay phu tử có trái dưa nặng đến năm thạch, sao không tính dùng nó làm trái nổi thả qua sông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ bầu tan, không có chỗ dùng? Thì ra vì cái lòng của phu tử hẹp hòi chưa thông đạt đó.

H. Huệ-tử gọi Trang-tử, nói: “Tôi có cội cây to, người ta gọi nó là cây Vu. Gốc nó lồi lõm không đúng dây mực. Nhánh nhóc nó thì cong queo không đúng quy củ. Đem trồng nó ở đường cái, người thợ mộc cũng không thèm nhìn. Nay lời nói của ông to lớn mà vô dụng, nên người người đều không thèm nghe.”

Trang-tử nói: “Ông riêng chẳng thấy con mèo rừng đó sao? Co mình đứng núp, rình vật đi rong, nhảy tây nhảy đông, không hiềm cao thấp, kẹt trong dò bẫy, chết nơi lưới rập. Đến như con thai-ngưu, lớn như vầng mây che một phương trời, kể ra cũng là to thật, nhưng cũng không bắt được chuột. Nay ông có cây to, lại sợ nó vô dụng. Sao không đem nó trồng nơi tịch mịch, giữa cánh đồng rộng bao la. Khách ngao du không làm gì, ngồi nghỉ dưới gốc nó, khách tiêu diêu nằm ngủ dưới bóng nó. Nó sẽ không chết yểu vì búa rìu, cũng không sợ vật nào làm hại. Không có chỗ nào có thể dùng được, thì khốn khổ từ đâu mà đến được?”
(Trang tử Nam hoa kinh - Thu Giang Nguyễn Duy Cần)
 
A. Tại biển Bắc có con cá Côn, lớn không biết mấy nghìn dặm. Cá này hóa ra chim Bằng: lưng của chim Bằng lớn cũng không biết mấy nghìn dặm. Vỗ cánh mà bay, cánh nó sè ra như mây che rợp một phương trời. Biển động, Bằng bèn bay sang biển Nam: biển Nam là Ao-Trời.

Tề Hải, sách chép các việc kỳ quái nói: chim Bằng, lúc bay qua biển Nam, cánh đập làm cho sóng nước nổi lên ba nghìn dặm dài; nó nương theo gió trốt mà cất lên chín muôn dặm cao, và bay luôn sáu tháng mới nghỉ.

Cái mà ta thấy trên không kia có phải là bầy “ngựa rừng” chăng, hay là bụi trần? Hay là cái hơi thở của muôn vật nổi lên? Còn màu trời xanh xanh kia có phải là màu thật của nó không, hay chỉ là màu của vô cùng thăm thẳm? Thì cái thấy của con chim Bằng bay trên mây xanh dòm xuống dưới đây cũng chỉ như thế mà thôi.

Vả lại, nước không sâu thì không sức chở thuyền lớn. Đổ một chung nước nhỏ vô một cái hủng nhỏ trong nhà, lấy một cọng cỏ thả lên làm thuyền, thì thuyền tự nổi; nếu lại lấy cái chung ấy làm thuyền mà thả lên, thì thuyền phải trịt. Là tại sao? Tại nước không sâu mà thuyền thì lớn. Cũng như lớp gió không dầy thì không đủ sức chở nổi cánh lớn của chim Bằng. Bởi vậy chim Bằng khi bay lên chín muôn dặm cao là cỡi lên lớp gió ở dưới nó. Chừng ấy, lưng vác trời xanh, không gì ngăn trở, nó bay thẳng qua Nam.

*

Một con ve và một con chim cưu nhỏ thấy vậy, cười nói: “Ta quyết bay vụt lên cây du, cây phương. Như bay không tới mà có rơi xuống đất thì thôi, chứ không sao! Bay cao chín muôn dặm, sang qua Nam mà làm gì? Ta thích bay đến mấy cánh đồng gần đây, ăn ba miếng no bụng, rồi về. Nếu ta đến chỗ xa trăm dặm, thì ta có lương thực mỗi ngày. Còn nếu ta đến chỗ xa nghìn dặm, thì ta có ba tháng lương thực.”

Hai con vật ấy, mà biết gì?

Kẻ tiểu trí sao kịp người đại trí. Kẻ tuổi nhỏ sao kịp người tuổi lớn.

Sao mà biết được thế? Nấm mai biết gì được hồi sóc, ve sầu biết sao được xuân, thu! Đó đều là hạng tuổi nhỏ cả. Phương Nam nước Sở có cây minh-linh, sống một xuân là năm trăm năm; một thu là năm trăm năm. Thượng cổ có cây đại-xuân sống một xuân là tám nghìn năm, một thu là tám nghìn năm. (Đó là hạng tuổi lớn). Lâu nay từng nghe danh sống lâu của Bành tổ. Hễ nói đến sống lâu, thì người đời thường đem đó mà so sánh, như thế không đáng buồn sao?
B. Lời ông Thang hỏi ông Cấc, cũng thế. Miền Bắc hoang lạnh có cái biển gọi là Minh-hải, tức là Ao Trời. Có con cá lớn tới mấy nghìn dặm, chưa ai biết nó dài đến bao nhiêu, tên là Côn. Có con chim, tên là Bằng, lưng như núi Thái, cánh tợ vừng mây che một phương trời. Chim nầy theo gió trốt cuộn như sừng dê mà lên chín muôn dặm cao, tuyệt bóng mây-mù, đội trời xanh biếc, bấy giờ nó mới bay về biển Nam. Một con chim ở hồ nhỏ cười nói: đó bay chi cao xa lắm vậy? Ta bay nhảy bất quá vài chục thước cao, ngao du trong đám cỏ bồng cỏ hao. Bay đến thế cũng là đúng mực lắm rồi. Còn đó bay chi cao xa lắm vậy?

Đó là chỗ phân biệt giữa lớn và nhỏ.
C. Cho nên, kẻ có tài trí đủ làm nổi một tước quan, hạnh hơn cả một làng, (thì) đức (sẽ) không khác nào một vị vua được lòng tin của cả nước, (nếu biết) tự xem như đấng làm vua kia vậy.

Nhưng Vinh-tử nước Tống lại còn cười chê đó. Vả, đời có khen cũng không khích lệ, mà đời có chê cũng không ngăn đón được: họ đã định rõ cái phận của trong ngoài, phân biệt cái cảnh của vinh nhục rồi đấy. Trong đời, hạng người như thế cũng dễ thường thấy có. Tuy vậy, đức của họ cũng chưa được vững.

Liệt-tử cưỡi gió mà đi, đi một cách êm ái nhẹ nhàng, đi trọn mười lăm hôm mới về. Đó sống trong chỗ chí phúc và người như ông dễ thường thấy có. Tuy khỏi phải đi, nhưng còn chỗ phải chờ.

Đến như thuận theo cái chánh của Trời Đất, nương theo cái biến của lục khí mà dong chơi trong cõi vô cùng: thì đó đâu còn phải chờ đợi cái gì nữa. Cho nên nói rằng: bậc chí nhơn không thấy có mình, bậc thần nhơn không nhớ đến công mình, bậc thánh nhơn không nghĩ đến tên mình.

D. Vua Nghiêu muốn nhường thiên hạ cho Hứa-Do, nói: Mặt trời mặt trăng đã mọc, mà không dụt đuốc, nhìn bóng đuốc há chẳng khó coi lắm sao? Mưa mùa đã đổ xuống, mà còn đi tưới nước, thế là chẳng lao công vô ích hay sao? Nay nếu phu tử lên ngôi, thiên hạ ắt được trị. Tôi còn ngồi làm thần tượng chi nữa. Tôi tự thấy rất kém. Vậy, xin mời ngài lên trị thiên hạ.

Hứa Do nói: Ngài trị thiên hạ, thì thiên hạ được trị. Tôi còn thế Ngài làm chi, tôi cầu danh hay sao? Danh là khách của Thật. Tôi muốn làm khách sao? Chim tiêu liêu đậu ở rừng sâu, chẳng qua một nhánh là vừa. Chuột đồng uống nước sông dài, chẳng qua đầy bụng là đủ. Xin trả lại cho ngài đó. Thiên hạ ấy, tôi không dùng làm gì cả. Người đầu bếp dù không xong việc bếp, người chủ tế cũng không vượt phận mà thế cho đó được.

E. Kiến Ngô nói với Liên-Thúc: Tôi nghe Tiếp Dư nói chuyện lớn lác không tưởng, có lối đi mà không có lối về… khiến tôi kinh sợ, ông nói như sông Hà sông Hán không cùng tận, rất là xa xôi, không cận với nhân-tình… Liên Thúc hỏi: “Nối những gì?” - ”Nói rằng trên núi Diễu-Cô Tạ có thần nhơn ở, da thịt như băng tuyết, dáng điệu mềm yếu như người con gái chưa chồng. Không ăn năm loài thóc, chỉ hớp gió, uống sương, nương theo hơi mây, cỡi rồng mà bay ngao du ngoài bốn biển. Ngưng thần lại thì có thể làm cho vạn vật không đau ốm hư hoại, lúa thóc lại được mùa. Tôi cho đó là lời nói cuồng, nên không tin.”

Liên Thúc nói: “Phải! Kẻ đui lấy gì để xem thấy được cái đẹp của văn-hoa: kẻ điếc lấy gì để nghe được tiếng chuông tiếng trống. Há chỉ có hình hài mới có đui điếc đâu… trí cũng có đui điếc. Theo lời nói ấy thì ngươi nay cũng thế. Kể như người ấy, đức ấy cùng vạn vật hỗn hợp làm Một, thì đời dầu có cầu ra trị loạn, họ cũng đâu chịu đi làm cái việc của thiên hạ. Người ấy không vật nào hại đặng. Nước cả đụng trời mà không làm họ chết chìm được, nắng cả chảy mềm sắt đá, cháy núi thiêu đất cũng không làm cho họ chết nóng được. Đồ bụi bặm, cặn bã của thần nhơn ấy cũng đúc thành được hạng người của Nghiêu Thuấn. Ai đâu lại khứng đi làm công việc cho ngoại vật!

Người nước Tống buôn mũ Chương phủ, sang nước Việt. Người nước Việt thì cắt tóc ngắn và xăm mình, không dùng mũ ấy làm gì. Nghiêu trị trăm họ trong thiên hạ, bình trị được trong nước, bèn sang qua núi Diễu-Cô Tạ để ra mắt bốn Thầy. Họ có cái vẻ sâu xa làm sao mà Nghiêu quên mất thiên hạ của mình.

G. Huệ-tử gọi Trang-tử, nói: Ngụy vương tặng tôi một giống dưa to. Tôi trồng nó có trái nặng đến năm thạch. Dùng nó đựng nước, nó nặng, không cất nhắc được. Bổ nó ra làm cái bầu, thì lại không còn dùng được chỗ nào. Đâu phải nó không to lớn, nhưng vì cho nó là vô dụng nên tôi đập bỏ nó.

Trang-tử nói: Thế là phu tử vụng về chỗ đại dụng nó. Nước Tống có người khéo chế được môn thuốc chữa răn nứt da tay, đời đời chuyên làm nghề ươm tơ. Có người hay biết, đến xin mua phương thuốc đó một trăm lượng vàng. Anh ta bèn nhóm thân-tộc bàn rằng: “Nhà ta đời đời làm nghề ươm tơ, lợi không hơn số vàng đó. Nay một mai mà được trăm vàng, xin để cho bán.”

 Người khách được phương thuốc, đem thuyết vua Ngô. Nước Việt có nạn, vua Ngô sai anh làm tướng. Nhằm mùa đông, thủy chiến với người Việt, người Việt đại bại. Vua Ngô bèn cắt đất mà phong thưởng anh ta.

Cũng thời cùng một phương thuốc trị răn nứt da tay mà một người được thưởng phong, một người không ta khỏi cái nghề ươm tơ: đó là tại chỗ biết dùng mà khác nhau vậy.

Nay phu tử có trái dưa nặng đến năm thạch, sao không tính dùng nó làm trái nổi thả qua sông qua hồ, mà lo chi hồ vỡ bầu tan, không có chỗ dùng? Thì ra vì cái lòng của phu tử hẹp hòi chưa thông đạt đó.

H. Huệ-tử gọi Trang-tử, nói: “Tôi có cội cây to, người ta gọi nó là cây Vu. Gốc nó lồi lõm không đúng dây mực. Nhánh nhóc nó thì cong queo không đúng quy củ. Đem trồng nó ở đường cái, người thợ mộc cũng không thèm nhìn. Nay lời nói của ông to lớn mà vô dụng, nên người người đều không thèm nghe.”

Trang-tử nói: “Ông riêng chẳng thấy con mèo rừng đó sao? Co mình đứng núp, rình vật đi rong, nhảy tây nhảy đông, không hiềm cao thấp, kẹt trong dò bẫy, chết nơi lưới rập. Đến như con thai-ngưu, lớn như vầng mây che một phương trời, kể ra cũng là to thật, nhưng cũng không bắt được chuột. Nay ông có cây to, lại sợ nó vô dụng. Sao không đem nó trồng nơi tịch mịch, giữa cánh đồng rộng bao la. Khách ngao du không làm gì, ngồi nghỉ dưới gốc nó, khách tiêu diêu nằm ngủ dưới bóng nó. Nó sẽ không chết yểu vì búa rìu, cũng không sợ vật nào làm hại. Không có chỗ nào có thể dùng được, thì khốn khổ từ đâu mà đến được?”
(Trang tử Nam hoa kinh - Thu Giang Nguyễn Duy Cần)

Nước, Biểu Tượng Của Đạo


Nước, một trong những hình thái vật chất thiết yếu nhất của cuộc sống, được các bậc thánh triết của Đạo gia xem như hình ảnh biểu tượng của Đạo. Nước có nhiều tính chất đặc biệt khiến nó trở thành một hình thái vật chất "độc nhất vô nhị" trên quả đất. Chúng ta có thể quan sát những động thái của nước để từ đó tìm hiểu những động thái của Đạo.

Nước không màu, trong suốt, phản chiếu ánh sáng lại cho phép ánh sáng xuyên thấu. Giống như hư không, nước có khả năng dung chứa và thẩm thấu gần như hoàn hảo. Khi bị khuấy động, nước nổi sóng cuốn bụi trần và hóa đục, khi sóng yên gió lặng, nước thả bụi trần lắng xuống đáy rồi nước lại trong suốt. Tâm hồn con người cũng thế. Khi lo lắng hay bận rộn vì công việc, tâm hồn sẽ bị khuấy động bởi vô số ý nghĩ, năng lực nhận thức sẽ bị phân tán và rối loạn khiến sự việc trước mắt trở nên mù mờ đi. Trang Tử viết: "... Người ta không soi bóng vào một dòng nước chảy mà vào một dòng nước đứng. Vậy thì chỉ có cái gì ngưng lặng mới làm cho người khác ngưng lặng được... Nước thật yên lặng thì mực nước bình, vì vậy nó có thể làm chuẩn tắc cho mọi việc..." Đạo gia khuyên ta nên giữ tâm hư tĩnh cốt để giữ thần trí sáng suốt, người ta chỉ có thể ngộ được Đạo khi tinh thần đạt đến mức bình lặng hoàn toàn.

Nước rất linh động, có thể thích ứng với mọi hình thức của vật chứa, nhưng cũng rất ổn định. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; nước vẫn là nước, không thể đánh mất đi bản chất của nó. Gặp lạnh thì đông cứng, gặp nóng thì bốc hơi; nước vẫn là nước, không hề thay đổi tính chất hóa học của nó. Đạo cũng thế, hòa hợp muôn vật mà không dừng lại ở một hình thái cố định nào cả, lưu chuyển biến hóa không ngừng mà đức của nó chẳng hề suy suyển. Kẻ đắc Đạo sống trong đời, cách ứng xử của họ linh động và biến hóa như nước vậy; tri mệnh an thời, ứng cơ lợi vật mà chẳng hề mê mờ thiên tánh.

Nước dường như dịu mềm nhưng năng lực của nó vô cùng to lớn - vô số lòng sông, khe suối trên quả đất này là bằng chứng cho sức mạnh vĩ đại của nước. Lão Tử tán dương năng lực của nước như sau: "Thiên hạ nhu nhược, mạc quá ư thủy, nhi công kiên cường giả, mạc chi năng thắng, kỳ vô dĩ dị chi. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành". (Vạn vật dưới trời, không gì mềm yếu hơn nước, mà xét sức công phá thì không gì có thể hơn nó được, không gì thay thế nó được. Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh. Dưới trời không ai biết, không ai có thể làm được). Xét theo lẽ đó, cái dụng của đức nhu thuận thật to lớn; nhu thuận không chỉ là mềm yếu mà còn là kiên định, là tri thức minh triết xuất phát từ cuộc sống hòa hợp với Đạo.

Nước có khuynh hướng chảy dồn về chỗ thấp, tái lập thế quân bình, thể hiện đức huyền đồng của Đạo. Lão Tử viết: "Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư Đạo... Phù duy bất tranh, cố vô vưu". (Bậc thượng thiện giống như nước, nước hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh, ở chổ mà người người đều ghét, nên gần với Đạo. Ôi, vì không tranh, nên không sao lầm lỗi). Lên trên làm mưa móc, xuống dưới làm sông lạch, nước tưới gội và thấm nhuần vạn vật, không thiên lệch cũng không cạnh tranh (nhu thuận). Bậc thánh nhân đắc Đạo giống như nước, "bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng", khiêm hòa và lặng lẽ ứng cơ lợi vật, thành tựu đạo hạnh của mình.

Hãy học cách sống trong đời ung dung tự tại như nước chảy, linh động mà không biến chất, nhu thuận mà kiên định, khiêm hòa mà đức độ. Đó là cách sống hòa hợp với tự nhiên và rất gần với Đạo.


Nước, một trong những hình thái vật chất thiết yếu nhất của cuộc sống, được các bậc thánh triết của Đạo gia xem như hình ảnh biểu tượng của Đạo. Nước có nhiều tính chất đặc biệt khiến nó trở thành một hình thái vật chất "độc nhất vô nhị" trên quả đất. Chúng ta có thể quan sát những động thái của nước để từ đó tìm hiểu những động thái của Đạo.

Nước không màu, trong suốt, phản chiếu ánh sáng lại cho phép ánh sáng xuyên thấu. Giống như hư không, nước có khả năng dung chứa và thẩm thấu gần như hoàn hảo. Khi bị khuấy động, nước nổi sóng cuốn bụi trần và hóa đục, khi sóng yên gió lặng, nước thả bụi trần lắng xuống đáy rồi nước lại trong suốt. Tâm hồn con người cũng thế. Khi lo lắng hay bận rộn vì công việc, tâm hồn sẽ bị khuấy động bởi vô số ý nghĩ, năng lực nhận thức sẽ bị phân tán và rối loạn khiến sự việc trước mắt trở nên mù mờ đi. Trang Tử viết: "... Người ta không soi bóng vào một dòng nước chảy mà vào một dòng nước đứng. Vậy thì chỉ có cái gì ngưng lặng mới làm cho người khác ngưng lặng được... Nước thật yên lặng thì mực nước bình, vì vậy nó có thể làm chuẩn tắc cho mọi việc..." Đạo gia khuyên ta nên giữ tâm hư tĩnh cốt để giữ thần trí sáng suốt, người ta chỉ có thể ngộ được Đạo khi tinh thần đạt đến mức bình lặng hoàn toàn.

Nước rất linh động, có thể thích ứng với mọi hình thức của vật chứa, nhưng cũng rất ổn định. Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; nước vẫn là nước, không thể đánh mất đi bản chất của nó. Gặp lạnh thì đông cứng, gặp nóng thì bốc hơi; nước vẫn là nước, không hề thay đổi tính chất hóa học của nó. Đạo cũng thế, hòa hợp muôn vật mà không dừng lại ở một hình thái cố định nào cả, lưu chuyển biến hóa không ngừng mà đức của nó chẳng hề suy suyển. Kẻ đắc Đạo sống trong đời, cách ứng xử của họ linh động và biến hóa như nước vậy; tri mệnh an thời, ứng cơ lợi vật mà chẳng hề mê mờ thiên tánh.

Nước dường như dịu mềm nhưng năng lực của nó vô cùng to lớn - vô số lòng sông, khe suối trên quả đất này là bằng chứng cho sức mạnh vĩ đại của nước. Lão Tử tán dương năng lực của nước như sau: "Thiên hạ nhu nhược, mạc quá ư thủy, nhi công kiên cường giả, mạc chi năng thắng, kỳ vô dĩ dị chi. Nhu thắng cương, nhược thắng cường. Thiên hạ mạc năng tri, mạc năng hành". (Vạn vật dưới trời, không gì mềm yếu hơn nước, mà xét sức công phá thì không gì có thể hơn nó được, không gì thay thế nó được. Mềm thắng cứng, yếu thắng mạnh. Dưới trời không ai biết, không ai có thể làm được). Xét theo lẽ đó, cái dụng của đức nhu thuận thật to lớn; nhu thuận không chỉ là mềm yếu mà còn là kiên định, là tri thức minh triết xuất phát từ cuộc sống hòa hợp với Đạo.

Nước có khuynh hướng chảy dồn về chỗ thấp, tái lập thế quân bình, thể hiện đức huyền đồng của Đạo. Lão Tử viết: "Thượng thiện nhược thủy, thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xử chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư Đạo... Phù duy bất tranh, cố vô vưu". (Bậc thượng thiện giống như nước, nước hay làm lợi cho vạn vật mà không tranh, ở chổ mà người người đều ghét, nên gần với Đạo. Ôi, vì không tranh, nên không sao lầm lỗi). Lên trên làm mưa móc, xuống dưới làm sông lạch, nước tưới gội và thấm nhuần vạn vật, không thiên lệch cũng không cạnh tranh (nhu thuận). Bậc thánh nhân đắc Đạo giống như nước, "bất cảm vi thiên hạ tiên, cố năng thành khí trưởng", khiêm hòa và lặng lẽ ứng cơ lợi vật, thành tựu đạo hạnh của mình.

Hãy học cách sống trong đời ung dung tự tại như nước chảy, linh động mà không biến chất, nhu thuận mà kiên định, khiêm hòa mà đức độ. Đó là cách sống hòa hợp với tự nhiên và rất gần với Đạo.

Hư Không, Chỗ Dụng Của Đạo


Hư không vốn là môi trường của những tiềm năng chưa phát huy. Nói một cách khác, hư không là chỗ dùng của Đạo. Xây tường, dựng cửa cốt để ngăn phòng, nhờ khoảng không gian bên trong mới có được làm chỗ dùng của phòng. Nhồi đất, ép khuôn để làm chén bát, nhờ khoảng không gian lõm ở giữa mới có được chỗ dùng của chén bát. Bởi thế, Lão Tử nói: "Hữu chi dĩ vi lợi, vô chi dĩ vi dụng" (Lấy cái có để làm cái lợi, lấy cái không để làm cái dụng).

Cái dụng của hư không vốn xuất phát từ cái đức dung chứa của nó. Phàm khi ta rót nước vào bát, đầy bát thì nước tràn; khi nào lòng bát còn trống, khi ấy tiềm năng dung chứa của bát vẫn còn có thể phát huy(1). Cái đức dung chứa của một vật thể có hạn lượng còn như thế, huống chi là cái đức của Đạo cả, bao trùm toàn bộ vũ trụ bao la. Lão Tử nói: "Huyền tẫn(2) chi môn, thị vi thiên địa căn, miên miên nhược tồn, dung chi bất cần (Cửa của huyền tẫn, gốc rễ của trời đất. Dằng dặc như còn hoài, dùng hoài mà không hết).

Cái dụng của hư không là vô tận. Vì thế kẻ sống theo Đạo cần phải giữ lòng mình như hư không (hư tâm), điềm đạm, nhu thuận và lặng lẽ, hòa hợp với Đạo. Hư tĩnh, điềm đạm và vô vi là con đường trở về cái gốc hư không thuần phác và bản nhiên của vạn vật - Đạo hiển hiện ở đó, Thiên chân cũng hiển hiện ở đó. Tinh hoa của bao kinh sách Đạo gia, đích đến của bao phương pháp tu luyện "tinh, khí, thần" đều quy cả về cái gốc hư không thuần nhiên ấy. Lão Tử nói: "Trí hư cực, thủ tịnh dốc; vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân..., các phục quy kỳ căn. Quy căn viết tịnh, thị vi Phục mạng, Phục mạng viết Thường" (Đến chỗ cùng cực hư không, là giữ vững được cái tịnh; vạn vật đều sinh ra, ta thấy chúng trở về cội gốc. Ôi! Muôn vật trùng trùng... đều trở về cội rễ của chúng. Trở về cội rễ, gọi là tịnh, ấy là thuận theo Mệnh, thuận theo Mệnh gọi là đạo Thường).

Hư không là cốt lõi, cũng là chỗ đồng nhất của vạn vật. Thực ra, mối sự vật trong vũ trụ này đều hiện hữu như là thành phần của một tổng thể, chiếm một phần không gian và có một ý nghĩa (hay chức năng) nhất định đối với tổng thể ấy. Về phần mình, vũ trụ tổng thể cũng có một ý nghĩa nhất định đối với mỗi sự vật thành phần của nó. Hư không dung hợp tất cả lại với nhau trong một mối tương giao tiên nguyên huyền nhiệm. Nguyên lý tương giao ấy là Đạo.

Ghi chú:

(1) Đó là hệ quả của một quy luật cơ bản của Đạo. Đó là luật Quân Bình. Lão Tử nói: "Thiên chi đạo. Tổn hữu dư nhi bổ bất túc" (Đạo Trời: bớt chỗ dư bù chỗ thiếu).
(2) Có nghĩa là mẹ nhiệm mầu, tức là Đạo. Có sách chú giải rằng Huyền là Trời thuộc dương, Tẫn là Đất thuộc âm.
 Nước, Biểu Tượng Của Đạo 


Hư không vốn là môi trường của những tiềm năng chưa phát huy. Nói một cách khác, hư không là chỗ dùng của Đạo. Xây tường, dựng cửa cốt để ngăn phòng, nhờ khoảng không gian bên trong mới có được làm chỗ dùng của phòng. Nhồi đất, ép khuôn để làm chén bát, nhờ khoảng không gian lõm ở giữa mới có được chỗ dùng của chén bát. Bởi thế, Lão Tử nói: "Hữu chi dĩ vi lợi, vô chi dĩ vi dụng" (Lấy cái có để làm cái lợi, lấy cái không để làm cái dụng).

Cái dụng của hư không vốn xuất phát từ cái đức dung chứa của nó. Phàm khi ta rót nước vào bát, đầy bát thì nước tràn; khi nào lòng bát còn trống, khi ấy tiềm năng dung chứa của bát vẫn còn có thể phát huy(1). Cái đức dung chứa của một vật thể có hạn lượng còn như thế, huống chi là cái đức của Đạo cả, bao trùm toàn bộ vũ trụ bao la. Lão Tử nói: "Huyền tẫn(2) chi môn, thị vi thiên địa căn, miên miên nhược tồn, dung chi bất cần (Cửa của huyền tẫn, gốc rễ của trời đất. Dằng dặc như còn hoài, dùng hoài mà không hết).

Cái dụng của hư không là vô tận. Vì thế kẻ sống theo Đạo cần phải giữ lòng mình như hư không (hư tâm), điềm đạm, nhu thuận và lặng lẽ, hòa hợp với Đạo. Hư tĩnh, điềm đạm và vô vi là con đường trở về cái gốc hư không thuần phác và bản nhiên của vạn vật - Đạo hiển hiện ở đó, Thiên chân cũng hiển hiện ở đó. Tinh hoa của bao kinh sách Đạo gia, đích đến của bao phương pháp tu luyện "tinh, khí, thần" đều quy cả về cái gốc hư không thuần nhiên ấy. Lão Tử nói: "Trí hư cực, thủ tịnh dốc; vạn vật tịnh tác, ngô dĩ quan phục. Phù vật vân vân..., các phục quy kỳ căn. Quy căn viết tịnh, thị vi Phục mạng, Phục mạng viết Thường" (Đến chỗ cùng cực hư không, là giữ vững được cái tịnh; vạn vật đều sinh ra, ta thấy chúng trở về cội gốc. Ôi! Muôn vật trùng trùng... đều trở về cội rễ của chúng. Trở về cội rễ, gọi là tịnh, ấy là thuận theo Mệnh, thuận theo Mệnh gọi là đạo Thường).

Hư không là cốt lõi, cũng là chỗ đồng nhất của vạn vật. Thực ra, mối sự vật trong vũ trụ này đều hiện hữu như là thành phần của một tổng thể, chiếm một phần không gian và có một ý nghĩa (hay chức năng) nhất định đối với tổng thể ấy. Về phần mình, vũ trụ tổng thể cũng có một ý nghĩa nhất định đối với mỗi sự vật thành phần của nó. Hư không dung hợp tất cả lại với nhau trong một mối tương giao tiên nguyên huyền nhiệm. Nguyên lý tương giao ấy là Đạo.

Ghi chú:

(1) Đó là hệ quả của một quy luật cơ bản của Đạo. Đó là luật Quân Bình. Lão Tử nói: "Thiên chi đạo. Tổn hữu dư nhi bổ bất túc" (Đạo Trời: bớt chỗ dư bù chỗ thiếu).
(2) Có nghĩa là mẹ nhiệm mầu, tức là Đạo. Có sách chú giải rằng Huyền là Trời thuộc dương, Tẫn là Đất thuộc âm.
 Nước, Biểu Tượng Của Đạo 

Chỉ huyển thiên


“Chỉ huyển thiên” thi chú – Chú giải thơ trong sách “Chỉ huyển thiên”
Tác giả: Lã Động Tân
Người chú: Bạch Ngọc Thiềm

Bài tự
Ta vốn là người tinh thông Nho học, lên kinh ứng thì, giữa đường được gặp gỡ Chính Dương tiên ông, người thương xót chỉ cho ta tu luyện đại đạo, nhờ đó ta bèn từ bỏ công danh. Ban đầu, ta có lòng ngờ vực, sau được chỉ rõ mới tỉnh ngộ, lại tìm đến hỏi thánh sư, băng rừng lội suối, đi đến tận Chung Nam, rạp đầu xin hỏi nguồn căn của đạo. Người không trách cái lỗi trước của ta, truyền cho ta “Thái thượng vô lượng độ nhân diệu kinh”, và “Đan phòng bí quyết”, dặn dò nhấc nhở ta nhiều lần, dạy ta náu thân, âm thầm tu luyện đại đạo, luyện hái hoàn đan, thóat đường sinh tử, nhập vào cõi vô sắc vô thanh, ung dung dạo chơi chốn trường sinh. Ta nghe lời người, cảm thấy vui mừng và kính cẩn, rạp đầu bái tạ ân của người, rồi từ biệt thánh sư vân du chốn đời trần, nguyện sẽ độ cho trăm người thành đạo, quay về phụng sự đạo chân. Không ngờ đám người mê muội ở trần thế chỉ biết ghét chết mà không chịu cầu tìm cái sống, không ngộ ra huyền cơ, không hiểu diệu lý, ngược lại còn sinh lòng phỉ báng. Kẻ chấp trước mà ôm ấp dục vọng sai trái, kẻ uống lấy kim thạch, thảo mộc, thôi thì đủ kiêu ngu si, đến nỗi sa vào cõi mê, đến già chết vẫn không biết hối hận. thật đáng tiết vô cùng. Ta vốn thương xót họ mà không thể cứu với, bèn riêng làm ra sách “Chỉ huyền thiên”, cất giữ trong thach thất ở thành Châu Thanh, cúi đầu vái trời rồi phất áo ra đi. Bậc quân tử ngày sau gặp được sách này, chính là có mối duyên ba đời. Nhận lĩnh bí quyết của ta ắt phải mũ miện áo xống chỉnh tề, có đủ hương (nhang), hỏa (lửa), đèn và thủy (nước), vào giữa đêm thanh tĩnh quay mặt về hướng sao Bắc Đẩu, dốc lòng cảm tạ các bậc cao chân, ngày ngày kiên trì thành tâm, cảm kích đấng tiên thánh. Như vậy sẽ tự có bậc minh sư gợi mở tỉ mỉ, rõ ràng về các việc tiến thoái thủy hỏa, cân lạng của thuốc; sau khi tỏ tường, hãy bắt đầu ẩn thân tu luyện long hổ đại đan, thoát thai nhập khẩu, tiếp thêm mệnh sống, kéo dài tuổi thọ, dồn đuổi ma quái. Tu được ba nghìn ngày thì công hạnh viên mãn, đột ngột được triệu bay lên,tiêu dao ngoài cõi vật, thọ ngang cùng trời, không khác gì ta cả. Do vậy nên làm bài tự này.


“Chỉ huyển thiên” thi chú – Chú giải thơ trong sách “Chỉ huyển thiên”
Tác giả: Lã Động Tân
Người chú: Bạch Ngọc Thiềm

Bài tự
Ta vốn là người tinh thông Nho học, lên kinh ứng thì, giữa đường được gặp gỡ Chính Dương tiên ông, người thương xót chỉ cho ta tu luyện đại đạo, nhờ đó ta bèn từ bỏ công danh. Ban đầu, ta có lòng ngờ vực, sau được chỉ rõ mới tỉnh ngộ, lại tìm đến hỏi thánh sư, băng rừng lội suối, đi đến tận Chung Nam, rạp đầu xin hỏi nguồn căn của đạo. Người không trách cái lỗi trước của ta, truyền cho ta “Thái thượng vô lượng độ nhân diệu kinh”, và “Đan phòng bí quyết”, dặn dò nhấc nhở ta nhiều lần, dạy ta náu thân, âm thầm tu luyện đại đạo, luyện hái hoàn đan, thóat đường sinh tử, nhập vào cõi vô sắc vô thanh, ung dung dạo chơi chốn trường sinh. Ta nghe lời người, cảm thấy vui mừng và kính cẩn, rạp đầu bái tạ ân của người, rồi từ biệt thánh sư vân du chốn đời trần, nguyện sẽ độ cho trăm người thành đạo, quay về phụng sự đạo chân. Không ngờ đám người mê muội ở trần thế chỉ biết ghét chết mà không chịu cầu tìm cái sống, không ngộ ra huyền cơ, không hiểu diệu lý, ngược lại còn sinh lòng phỉ báng. Kẻ chấp trước mà ôm ấp dục vọng sai trái, kẻ uống lấy kim thạch, thảo mộc, thôi thì đủ kiêu ngu si, đến nỗi sa vào cõi mê, đến già chết vẫn không biết hối hận. thật đáng tiết vô cùng. Ta vốn thương xót họ mà không thể cứu với, bèn riêng làm ra sách “Chỉ huyền thiên”, cất giữ trong thach thất ở thành Châu Thanh, cúi đầu vái trời rồi phất áo ra đi. Bậc quân tử ngày sau gặp được sách này, chính là có mối duyên ba đời. Nhận lĩnh bí quyết của ta ắt phải mũ miện áo xống chỉnh tề, có đủ hương (nhang), hỏa (lửa), đèn và thủy (nước), vào giữa đêm thanh tĩnh quay mặt về hướng sao Bắc Đẩu, dốc lòng cảm tạ các bậc cao chân, ngày ngày kiên trì thành tâm, cảm kích đấng tiên thánh. Như vậy sẽ tự có bậc minh sư gợi mở tỉ mỉ, rõ ràng về các việc tiến thoái thủy hỏa, cân lạng của thuốc; sau khi tỏ tường, hãy bắt đầu ẩn thân tu luyện long hổ đại đan, thoát thai nhập khẩu, tiếp thêm mệnh sống, kéo dài tuổi thọ, dồn đuổi ma quái. Tu được ba nghìn ngày thì công hạnh viên mãn, đột ngột được triệu bay lên,tiêu dao ngoài cõi vật, thọ ngang cùng trời, không khác gì ta cả. Do vậy nên làm bài tự này.

Tu chân đồ



Nhận thức về Tu Chân Đồ
1/ Thân thể con người có 360 đốt xương, 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, sau có ba cửa tam quan là: Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm. Vĩ Lư tại đầu dưới cùng của xương sống, cửa quan này có thể thông với Khí trong Thận. Từ cửa quan này xuất phát một đường Tủy, gọi là Tào Khê, cũng gọi là Hoàng Hà, là đường thăng Dương. Thẳng đến chỗ hai xương vai hẹp lại là Giáp Tích. Lên tiếp tới Não là Ngọc Chẩm. Đó là hậu tam quan. Trước có ba đan điền là: Nê Hoàn, Thổ Phủ, Ngọc Trì. Nê Hoàn là Thượng Đan Điền, vuông 1 tấc 2 phân, trong có một khiếu, là chỗ tàng Thần. Từ Mi Tâm đi vào chính giữa Thiên Môn, vào 1 tấc là Minh Đường, vào thêm 1 tấc là Động Phòng, vào thêm 1 tấc nữa là Nê Hoàn. Dưới Mi Tâm là sống mũi, cũng gọi là Lôi Đình Phủ. Từ Kim Kiều đến miệng có hai khiếu thông hầu, gọi là Thước Kiều. Hầu là xương cổ, là nơi ra vào của Nội Ngoại Khí. Sau có xương sụn mềm gọi là Yết (cổ họng), là chỗ tiếp nhận đồ ăn uống, nó thông với Ruột (tràng) và Dạ dày (vị). Hầu có 12 đốt xương, gọi là Trùng Lâu. Thẳng xuống là Phế khiếu, cho đến tận Tâm, phía trên Tâm có xương, gọi là Cửu Vĩ. Phía dưới Tâm có huyệt, gọi là Giáng Cung, là chỗ Long Hổ giao hội. Thẳng tiếp xuống 3 tấc 6 phân, là Thổ Phủ (nồi đất), là Huỳnh Đình huyệt, là Trung Đan Điền.

Tâm Thận cách nhau 8 tấc 4 phân, người có 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, ứng với khoảng cách giữa trời và đất là 8 vạn 4 ngàn dặm. Người có 360 đốt xương, ứng với Khí Dịch thăng giáng trong trời đất một vòng là 360 ngày.

2/ Trời có Cửu Cung, đất có Cửu Châu. Hạ Đan Điền của người có Cửu Khiếu, đó là hình Cửu Châu của đất. Nê Hoàn cung có chín huyệt, tiếp với Cửu Cung của trời. Xương đầu có tám miếng, ứng với tám phương. Có tên là Di La Thiên Ngọc Đế Cung, cũng gọi là Thuần Dương Thiên Cung. Trong có một huyệt, gọi là Huyền Linh (Khung) Chủ, cũng gọi là Nguyên Thần Cung. Dưới có lưỡi (thiệt), trong lưỡi có Kim Tỏa Quan, đối diện với lưỡi, gọi là Thước Kiều. Huyệt Nhân Trung dưới mũi (Tị), là đối diện với Kim Tỏa Quan, trong nó có Đốc Mạch, đó là căn bản của con người, trong Thượng Cửu Khiếu, có một cái là Tính Căn Ngọc Tuyền, cũng gọi là Hoa Trì. Dưới lưỡi có bốn khiếu, hai khiếu thông Tâm, sinh Dịch. Hai khiếu thông Thận, sinh Khí. Thần Thất Nê Hoàn Cửu Khiếu là Thiên Hoàng Chi Cung. Trong có một huyệt, hình như con gà (Kê Tử), lớn như Bồng Đài, chính là Côn Luân. Thích gọi là Tu Di Sơn. Người tu chân không thể không biết được.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Cửu u minh nguyệt động không vô”, chỉ ra trên đầu có Cửu Cung.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Cửu nguyên chi sơn hà đình đình, Trung hữu chân nhân khả sử lệnh” cũng nói: “Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng, Phương viên nhất thốn xứ thử trung”, trên đầu có Cửu Chân, mỗi cái chiếm một tấc. Trong đồ hình có câu: “Bất diệt chi đạo, tồn tư Nê Hoàn cửu chân”, cũng nói: “Não hữu cửu ban, phòng hữu nhất thốn”. Cửu Chân trong hình là Cao Chân, Thiên Chân, Thần Chân, Thượng Chân, Huyền Chân, Tiên Chân, Hư Chân, Thái Chân, Chí Chân.

“Động chân Thái thượng đạo quân nguyên đan thượng kinh” nói: “Trong đầu có Cửu Cung: Từ lưỡng mi đi vào một tấc là Minh Đường Cung, vào hai tấc là Động Phòng Cung, vào ba tấc là Đan Điền Cung (Nê Hoàn Cung), vào bốn tấc là Lưu Châu Cung, vào năm tấc là Ngọc Đế Cung. Trên Minh Đường Cung một tấc là Thiên Đình Cung, trên Động Phòng Cung một tấc là Cực Chân Cung, trên Đan Điền Cung một tấc là Huyền Đan Cung, trên Lưu Châu Cung một tấc là Thái Hoàng Cung.”

3/ Tâm: Thần như Chu Tước, hình như nhụy sen treo ngược, có thể biến Thủy thành Huyết. Thần Tâm tên là Đan Nguyên, tự Thủ Linh, nặng 12 lạng, nằm dưới Cửu Vĩ một tấc, màu sắc như màu đỏ của vải, trong có 7 lỗ 3 sợi (thất khổng tam mao). Bậc Thượng Trí, lỗ tim thông sáng. Người Trung Trí, 5 lỗ tâm huyệt thông khí. Kẻ Hạ Trí không có lỗ (hình như đúng là có 3 lỗ), khí minh không thông. Tâm là con của Gan, là mẹ của Tì, lưỡi là quan của nó. Khiếu thông với tai, tai trái là Bính, tai phải là Đinh. Dịch là mồ hôi, Thận tà mà nhập Tâm thì mồ hôi nhiều, vị của nó ngọt, Tâm hợp với phủ của Tiểu Trường.

“Huỳnh Đình kinh” nói: “Tâm thần Đan Nguyên tự Thủ Linh”. Tâm thuộc Hỏa, sắc đỏ, trong ngũ hành là Chu Tước ở phương Nam, tàng Thần, chủ Huyết Mạch.

4/ Giáng Cung là chỗ Long Hổ giao hội. Đi xuống 3 tấc 6 phân là Thổ Phủ, Huỳnh Đình huyệt, Trung Đan Điền. Trái có Minh Đường, phải có Động Phòng. Thần Vô Anh ở trái, là Gan. Thần Bạch Nguyên ở phải, là Phế. Giữa còn 1 tấc 2 phân, là nơi tàng Khí, là Đỉnh luyện Khí. Thẳng tiếp xuống Rốn (Tề) là 3 tấc 6 phân. Cho nên nói: Trên trời ba mươi sáu, dưới đất ba mươi sáu, từ trời xuống đến đất là 8 vạn 4 ngàn dặm, nên từ Tâm đến Thận là 8 tấc 4 phân. Thiên Tâm 3 tấc 6 phân, Địa Thận 3 tấc 6 phân, giữa có Đan Điền 1 tấc 2 phân, không phải là 8 tấc 4 phân sao? Cửa rốn (Tề môn) còn gọi là Sinh Môn, có Thất Khiếu, thông với ngoại thận, là khiếu mà tinh thần bị tiết lậu, tên là Yển Nguyệt Lô, thuộc Nhâm Mạch. Dưới có Cửu Khiếu, là Địa Ngục Phong Đô. Cũng tên là Khí Hải, xuống khoảng 1 tấc 3 phân là Ngọc Trì, cũng gọi là Hạ Đan Điền, là chỗ để tàng Tinh và Thái Dược. Trái có Minh Đường, phải có Động Phòng, cũng không có huyệt, vuông 1 tấc 3 phân. Ở đó có hai khiếu, thông với Nội Thận. Trong Thận có khiếu, thông với Vĩ Lư. Từ Vĩ Lư thông Lưỡng Thận Đường cho đến hai huyệt Túc Tam Lí dưới đầu gối, xuống tiếp tới huyệt Dũng Tuyền, đó là quan khiếu tương thông với toàn thân.


Thượng Đan Điền: là Nê Hoàn, từ Mi Tâm đi vào 3 tấc.
Trung Đan Điền: là Huyệt Huỳnh Đình dưới Thổ Phủ.
Hạ Đan Điền: là Ngọc Trì dưới Khí Hải 1 tấc 3 phân.

Tâm, Cửu Vĩ (Giáng Cung) <---- 3 tấc 6 phân ----> Thổ Phủ (Huỳnh Đình đường kính 1 tấc 2 phân) <---- 3 tấc 6 phân ----> Rốn, Khí Hải (Ngọc Trì). Vậy, khoảng cách giữa Tâm và Thận tổng cộng là 8 tấc 4 phân.

Giáng Cung, trong huyệt là Ngã Tính, là quẻ Li, là giờ Ngọ, cũng gọi là Nam Cung, là nơi Thần Thất được luyện, cũng gọi là Xá Nữ, là Chân Âm, cũng tên là Bích Nhãn Hồ. Tại phương Nam, trên có xương che phủ, y gia gọi là Cửu Vĩ. Để thoái Hậu Cửu Thiên Tư Lự Chi Thần, nên gọi: “Long tòng hỏa lí xuất” là như vậy.
“Nội Kinh Đồ” có câu: “Bích Nhãn Hồ Tăng Thủ Thác Thiên”.

5/ Phế, thần như Bạch Hổ, tượng như khánh treo ngược, nằm trên ngũ tạng, đối vời bào thai thì như là che phủ, nên gọi là Hoa Cái (Lọng hoa che phủ). Thần là Hạo Hoa, tự Hư Thành, nặng 3 cân 3 lạng, 6 lá 2 tai, tổng cộng 8 lá. Phế là con của Gan, là mẹ của Tì. Trong tàng thất phách, như trẻ nhỏ, tên là: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế. Mũi (Tị) là quan của nó, trái là Canh, phải là Tân. Ở khí làm ho, ở dịch làm nước mắt. Ở hình là da lông. Trên thông khí tới não, dưới thông khí tới tì, đó là những khí thuộc Phế, Phế là căn bản của Hô Hấp. “Huỳnh Đình” nói: “Suyễn tức hô hấp thể bất khoái, Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục hư”.
“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Phế thần Hạo Hoa tự Hư Thành”. Phế là cái lọng hoa che (Hoa Cái) lục phủ ngũ tạng, công năng chính của nó là điều hòa khí toàn thân, thân của nó rỗng nên có thể nạp khí, cho nên tên tự là Hư Thành. Màu của nó trắng, cho nên tên là Hạo Hoa.

“Suyễn tức hô hấp thể bất khoái, Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục hư”: nếu cảm thấy hô hấp trong thân không thông, tức thời nhanh chóng tập trung chú ý vào Phế thần màu trắng, để điều hòa lục hư.

Một tên là Tây Sơn Bạch Hổ. Ở Canh. Là Tinh của Kim. Thuộc quẻ Đoài. Ở phương Tây. Theo Đạo là Phách. Là Tình. Là mẹ của Thủy Tinh. Ở ngũ tạng là Phế. Tại trời là trăng. Là nhà của Ngã Phách.

6/ Tì thuộc trung ương Thổ, thịnh cả bốn mùa, là Hoàng Đế, thần như chim Phượng, tượng như Phúc Bồn (bồn che), tên là Thường Tại, tự là Hồn Đình, nhìn mặt trước thì che trên rốn (Tề), nhìn ngang thì che dạ dày (Vị), là Khí của Khôn, là Tinh của Thổ. Ở dưới Tâm 3 tấc, nặng 1 cân 2 lạng, to 3 tấc, dài 1 thước. Tì là con của Tâm, là mẹ của Phế, ngoài thông với lông mi, miệng là quan của nó. Thần của nó hay đố kị. Tì không định hình, chủ về Thổ, Âm. Cho nên Tì là then chốt của ngũ tạng, nó khai khiếu ở miệng, ở hình là gò má. Tì mạch xuất phát từ Ẩn Bạch, là chỗ của Bản Ý. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Trị nhân bách bệnh tiêu cốc lương, Hoàng y tử đái long hổ chương”.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Tì thần Thường Tại tự Hồn Đình”. Do Tì thuộc Thổ, ở vị trí trung ương, bốn mùa không nhờ Thổ thì không thịnh vượng được, nên gọi là Thường Tại.

7/ Thận thuộc bắc phương Thủy, thuộc quẻ Khảm, hình như Huyền Lộc (Hươu đen), hai đầu, tên là Huyền Minh, tự là Dục Anh, hình như quả trứng đá, nằm đối diện bên cạnh eo lưng, nặng 3 cân 1 lạng, chủ về phân Thủy và Khí, tưới tắm toàn thân, như cây có gốc. Trái tên là Thận, phải tên là Mệnh Môn. Là phủ của sinh khí, là lò của tử khí, nếu giữ thì bền lâu, nếu dùng thì hao kiệt. Là mẹ của Gan, là con của Phế, tai là quan của nó. Trời sinh Ngã, do khí lưu động mà biến đổi, gọi là Tinh. Tinh Khí qua lại, là Thần. Thần này, Thận tàn Thần Trí của nó. Trái thuộc Nhâm, phải thuộc Quý. Ở giờ là Tí Hợi. Ở khí là Xuy (Thổi). Ở dịch là nước bọt. Ở hình là xương (cốt). Kinh của nó tới Thượng Tiêu, Doanh (khí) của nó tới Trung Tiêu, Vệ (huyết) của nó tới Hạ Tiêu. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Thận bộ chi cung huyền khuyết viên, Trung hữu đồng tử minh thượng huyền. Chủ chư lục phủ cửu dịch nguyên, ngoại ứng lưỡng nhĩ bách dịch tân.”

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Thận thần Huyền Minh tự Dục Anh”. Thận sinh Thủy, là Huyền Vũ ở phương bắc trong ngũ hành, vì huyền thủy đen sâu thăm thẳm, cho nền tên là Huyền Minh. Thận tàng Tinh, chủ về sinh dục, cho nên gọi là Dục Anh.

“Nạn kinh tam thập lục nạn” nói: “Thận có hai quả như thế nào? Tự nhiên là thận có hai quả, nhưng không phải đều là Thận. Quả bên trái gọi là Thận, quả bên phải gọi là Mệnh Môn.”

8/ Đởm (mật), là Tinh của Kim, là Khí của Thủy, màu xanh, là một lá ngắn nằm cạnh Gan. Đởm là can đảm. Người có Đởm to tất không sợ hãi. Thần tên là Long Diệu, tự là Uy Minh. Hình như Quy Xà hỗn hình. Dáng như dải lụa treo. Nặng 3 lạng 3 thù (1 thù = 1/24 lạng). Là phủ của gan. Nếu theo căn cứ, Đởm không thuộc trong số ngũ tạng, như vậy thì quy về lục phủ, nhân vì Đởm cũng nhận thủy khí, đồng đạo với Khảm, vậy cũng không thể quy về lục phủ, cho nên có tạng Đởm biệt lập, hợp với Bàng Quang, cũng chủ về lông tóc. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Chủ chư khí lực nhiếp hổ binh, ngoại ứng nhãn đồng tị trụ gian. Não phát tương phù diệc câu tiên, cửu sắc cẩm y lục hoa quần.”
“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Đởm thần Long Diệu tự Uy Minh”. Đởm là Âm Mộc, ứng với vị trí Thanh Long ở phía Đông. Cho nên tên là Long Diệu. Đởm là quan trung chính, quyết đoán từ nó mà ra, vì nó trung chính không thiên lệch, nên tự là Uy Minh.

9/ Gan, thần như Thanh Long, hình như quả bầu treo, gần với tim, trái có 3 lá, phải có 4 lá. Thần tên là Long Yên, tự Hàm Minh. Nặng 4 cân 4 lạng. Gan là mẹ Tâm, là con Thận. Trong gan có 3 hồn: Sảng Linh, Đài Quang, U Tinh, mắt là quan của nó, mắt trái là Giáp, mắt phải là Ất. Đàn ông đến 60 tuổi, khí gan suy, lá gan mỏng, Đởm ít dần, mắt mờ dần. Ở hình là gân, mạch gan hợp với Mộc, là tạng của Hồn. Ở dịch là nước mắt, nếu Thận tà nhập gan, thì nhiều nước mắt. Đởm là phủ của gan, Đởm hợp với gan. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Hòa chế hồn phách tân dịch bình, ngoại ứng nhãn mục nhật nguyệt tinh, bách kha sở chung tồn Vô Anh, dụng đồng thất nhật tự sung doanh.”

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Can thần Long Yên tự Hàm Minh, Ế uất đạo yên chủ trọc thanh”. Gan chủ gân, màu của nó xanh, trong ngũ hành thì thuộc Thanh Long ở phương đông. Gan xuất khiếu ở mắt, thuộc thiên can Dương Giáp và Âm Ất.

“Hoàng đế nội kinh - Tố vấn - Thượng cổ thiên chân luận đệ nhất”: “Đàn ông.......48, dương khí suy kiệt ở trên, mặt khô, tóc mai bắt đầu bạc. 56, khí gan suy, gân không động được.”

Một chữ Đông Hải Thanh Long. Ở Giáp. Dịch của Mộc. Thuộc quẻ Chấn. Ở phương đông. Là Mộc trong ngũ hành. Là Hồn trong đạo. Là Tính. Là mẹ Hỏa Thần. Trong ngũ tạng là gan. Tại trời là mặt trời. Là chỗ của Ngã Hồn.


10/ Vĩ Lư quan, một tên là Cửu Khiếu, cũng tên là Cửu Đầu Sư Tử, cũng gọi là Thái Tử Xạ Cửu Trùng Thiết Cổ, Âm Quan Cố Bế, Thường Niên Bất Năng Khai, tên là Cửu Trùng Thiết Cổ. Thái Tử, là Thuần Dương Khí có thể Đề Hồ Quán Đỉnh (đạo phật ví Đề Hồ với tinh chất sữa bò = phật pháp tối cao. Đề Hồ Quán Đỉnh là việc rót trí tuệ vào người để đạt được giác ngộ), mới có thể quán thông, cho nên gọi là Xạ Cửu Trùng Thiết Cổ, đó là đường tắt để lên trời. Một tên là Địa Trục Thần Hồ, cũng tên là Triều Thiên Lĩnh. Một tên là Long Hổ Huyệt. Một tên là Tam Xoa Cốt. Trong Thận có Kim Đỉnh, trong ngoài tương thông, tổng có 3 đường thông lên Giáp Tích, thẳng thấu lên đỉnh môn tới Nê Hoàn, thông với cốt tủy toàn thân.

11/ Khí trong Đan Điền đó: trái xanh, phải vàng, dưới đen, trên trắng. Hạ Đan Điền, Chân Hổ, Khảm Địa, Anh Nhi xứ, Phù Tang Minh, Khí Hải, Thủy Tinh Cung, Tẫn Hộ. Huyệt trong nó, là Ngã Chân Tinh Mệnh Đế (chân tinh gốc mệnh của ta). Trên 1 tấc 3 phân, là chỗ của Tạo Hóa, là căn bản của Thiên Địa. Là chỗ của Bạch Đầu Lão Tử Thanh Huyền, là Ngã Mệnh Tạo Hóa Sơn Xuyên. Chân Nhất Xứ, Thủy Trung Kim, gọi là Kim Tinh, là Ngã Tiên Thiên Chi Chí Tinh, cũng có nói đến những câu: “Hổ hướng thủy trung sinh”, “Nhất dương phục sơ”, “Tí thời”, “Hải để nguyệt”, “Nhân môn”, “Sơ sinh ngã căn cơ”. Người tu chân không thể không biết.

“Nội Kinh đồ” cũng nói: “Bạch đầu lão tử mi thùy địa”
“Thủy Trung Kim”: trong quẻ Khảm có một hào Dương. Khảm tượng Anh Nhi. “Chung Lã truyền đạo tập - Luận ngũ hành đệ lục” nói: “Thận, là thủy. Trong Thủy có Kim. Kim vốn sinh Thủy, lúc hạ thủ phải biết Thủy trung Kim. Thủy vốn ghét Thổ, sau khi Thái Dược nên đắc được Thổ quy Thủy. Long là tượng của Gan, Hổ là hình của Phế. Dương Long xuất ra từ cung Li, Âm Hổ sinh từ vị trí Khảm. Ngũ hành nghịch hành. Khí truyền cho Mẫu.”

Chân Hổ, tức Chân Dịch trong Thận Khí. Chung Lã gọi là: “Chân Nhất Chi Thủy”, “Chung Lã truyền đạo tập - Luận Long Hổ đệ bát” nói: “Thận Thủy sinh Khí, trong Khí có Chân Nhất Chi Thủy, tên là Âm Hổ, Hổ gặp Dịch mà tương hội. Tâm Hỏa sinh Dịch, trong Dịch có Chính Dương Chi Khí, tên là Dương Long, Long gặp Khí mà tương hợp”.

“Nhất Dương phục sơ”: trong năm, đến Đông Chí thì Nhất Dương sinh; trong ngày, đến giờ Tí thì Hải Để Nguyệt (trăng đáy nước), đó là cái nghĩa Âm tận Dương sinh. Chân Dương Chi Khí xuất hiện, căn cơ của sinh mệnh đều dựa vào đó.

12/ Hai quả Thận, là Lưỡng Nghi. Trong có Liên Hoàn, là Ngã Chân Tinh. Trong tàng Xích Bạch nhị Khí (hai khí đỏ trắng). Khi còn nằm trong bụng mẹ, chưa có thân này, đã có huyệt đó, vì có huyệt đó, mới có thân này. Trái là Huyền Dương, phải là Tẫn Âm, trong huyệt là Ngã Hậu Thiên Chi Tinh Hải, cũng gọi là Chân Diên. Nho gọi là Thái Cực. Đạo gọi là Thủy Hương Diên, là Bắc Phương Túc Sát Chính Khí Tử Hà Xa. Thuận thì thành người, nghịch thì thành tiên. Một tên là Tào Khê. Một tên là Tổ Cung. Thông lên xuống hai mắt, giáng Hoa Trì. Dưới lưỡi xuất một khiếu là Ngọc Tuyền.

“Chân Diên”, tức Chân Nhất Chi Thủy trong Chân Khí. “Chung Lã truyền đạo tập - Luận sưu thiêm đệ thập nhất” nói: “Xuất ra từ trong Thận ta, tàng  Chân Khí của cha mẹ mà thành Diên, Chân Nhất, Chính Dương hợp với nó Dược biến đổi mà thành Hống. ... Chân Diên là do Chân Khí tự thân ta hợp mà được. Chân Diên sinh trong Chân Khí, trong Khí là Chân Nhất Chi Thủy???”

13/ Đào Khang tự Hợp Diên, tên là Đỉnh Liên Hoa, Quan Châu Y, như dáng Chân Nhân. Ở Thận Cung có các Khí Bích, Tử, Bạch, Lục, Thanh, Xích, Thương, là chỗ biến hóa của 8 phương trời nơi phương bắc (Bắc phương bát thiên sở hóa).

14/ Giáp Tích song quan, là đường tắt để Thần Tiên thăng giáng, là mạch trong người ta, là huyệt Cao Hoang, nói song quan vì trong có cái ròng rọc kéo nước. Trái là Thái Dương, phải là Thái Âm. Dương Thăng Âm Hô lộ, thông huyệt Thiên Trụ, cũng tên là Nội Song Lâm, thông với Ngoại Song Lâm, Dương Quan mạch phục ở trong. Huyệt này hun đốt quan khiếu, hạ tới Dũng Tuyền, thượng tới Nê Hoàn, kinh lạc tiếp với Giáng Cung, Hoa Trì, lấy Thủy giáng vào Hoa Cái, là chỗ của Ngũ Hành, là bên trong của gốc mệnh Hạ Đan Điền (Hạ Đan Điền mệnh đế chi nội).

“Nội Kinh đồ” nói: “Giáp Tích song quan thấu đỉnh môn, tu hành lộ kính thử vi tôn”.

Tham khảo châm cứu huyệt vị “Cao Hoang huyệt”, tại dưới đốt sống thứ tư của cột sống ngực, cách mạch Đốc 3 tấc.

15/ Ngọc Chẩm quan, chỗ này có một tên là Dương Cung Ngọc Kinh Sơn, Thiên Trụ, Thái Ất huyệt, một tấc trước chỗ đến xương đại trùy. Đó là đường tắt để đi ngược lên trời. Bên trong Hoàng Long đảo cuốn lên, tưới nước Tương Giang (Xung Tương Giang thủy), trên dưới thông suốt. Cửa quan này rất chặt, Dương Thần giữ ở đó, tới đó tất phải dùng Dương Khí, mới có thể thông phá được, hoá thành Chân Khí, tới Thước Kiều mà tương hội với Ngưu Nữ, sinh ra Anh Nhi.

16/ Hai khiếu dưới lưỡi, tên là Huyền Ưng. Cái ở sau tên là Yết, nuốt xuống tất cả đồ ẩm thực. Cái ở trước tên là Hầu, có 12 đốt xương, là thập nhị trùng lâu, là nơi thông suốt thanh khí.

17/ Rốn là Sinh Môn, Thái Ất Thần Quân ở đó, chủ Tính Mệnh của người, điều khiển 1 vạn 2 ngàn tinh hoa toàn thân (?).
Khí công và Nội Kinh Đồ
Tiến sĩ Viên Khang Tựu

Nhận thức về Nội Kinh Đồ

Tu Chân Đồ và Nội Kinh Đồ là bản thiết kế để dạy tu luyện nội đan của đạo giáo. Việc tu luyện nội đan bắt đầu bằng công phu luyện khí, sau khi tu được Dương Thần thì tiếp tục dùng Dương Thần để dựa vào một hệ thống công trình tạo mệnh thay tạo hóa cải biến sinh mệnh. Tu Chân Đồ và Nội Kinh Đồ từ trước tới nay được đạo môn coi như bảo vật không truyền ra ngoài, cho dù trong giáo mà chưa có một trình độ tu luyện tâm tính cùng với tri trức về đạo học nhất định thì cũng không được thầy sở truyền. Hai đồ hình này tổng kết sâu sắc công phu Luyện khí tồn tư trong Huỳnh Đình Kinh cùng với kỹ xảo về lí luận tu đan được nói rõ trong cuốn Tính Mệnh Khuê Chỉ cuối đời Minh. Trong chúng bao gồm tri thức về sinh lí cơ thể con người cũng các khái niệm y học. Là người luyện khí tất nên hiểu rõ hai đồ hình này.

1. Đồ hình này do Lưu Tố Vân khắc năm Quang Tự thứ 12, tức năm 1886.

2. Bản khắc của đồ hình này tại Bắc Kinh Bạch Vân Quán là do mô phỏng mà có.

3. Đồ hình này khắc lần đầu giữa khoảng năm Càn Long thứ 7 (1742) và Quang Tự thứ 12 (1886).

4. Phong cách của đồ hình này thừa kế kỹ xảo minh họa của cuốn Tính Mệnh Khuê Chỉ cuối đời nhà Minh, đó là văn tự và đồ họa hội ý. Trong đồ hình cũng có những câu ẩn mật khó hiểu, đó là theo phong cách giấu từ của sách về nội đan.

5. Trong đồ có thơ rằng:
Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa.
Bích nhãn hồ tăng thủ thác thiên.
Nhược hướng thử huyền huyền hội đắc.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền.
Là lấy từ “Lã Tổ toàn thư - Quyển tứ văn tập trung - Ngũ ngôn luật thập lục đầu”:
Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa.
Bích nhãn hồ tăng thủ chỉ thiên.
Nhược vấn thử huyền huyền hội đắc.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền.
Mà “Lã Tổ toàn thư” bản khắc gốc là do Lưu Thể Nộ năm thứ 7 Càn Long (1742) sưu tập mà thành. Như vậy, đồ hình ra đời sau “Lã Tổ toàn thư”.


6. Đan thi dịch giải:

6.1 Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền: Chỉ vận chuyển Thận khí, công phu vận chuyển phân ra: Xe trâu (ngưu xa), xe dê (dương xa), xe hươu (lộc xa). Vì là sơ luyện, nên dùng xe trâu. “Chủng kim tiền” là ẩn dụ chỉ việc cày cấy thu hoạch được đồ quý báu, mượn ý để chỉ Kim Đan.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên: “Bả kim tiền quán xuyên”, thiên cơ ở trong đó, nên coi trọng. “Khắc thạch nhi đồng” ám chỉ cái vẽ ở trong đồ hình. “Nhi đồng bả quán xuyên” thành Bắc Đẩu, “Phá mê chính đạo ca” nói: “Nhược ngộ thần tiên thân chỉ quyết, tróc trú Bắc Đẩu chu thiên luân”, là nói cái đó.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới: Tiểu vũ trụ đồng đẳng với đại vũ trụ, Đan Đầu Chủng Tử là toàn bộ nguồn gốc của sinh mệnh.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên: “Sơn xuyên” đại vũ trụ, huyền cơ cũng đồng với “Đương nôi phanh chử công phu”. Chính là tại Hỏa Hầu.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa: “Bạch đầu” là Khí. Chỉ khí theo Đốc Mạch đi lên, tiếp tục dẫn Âm Dịch men theo đầu hạ giáng.
Bích nhãn hồ tăng thủ thác thiên: “Thủ thác thiên” chỉ Đáp Thước Kiều, Nhâm Đốc hai mạch nhờ vào đưa lưỡi lên hàm trên mà làm cho khí được thông suốt.
Nhược hướng thử huyền huyền hội đắc: Hiểu được huyền cơ của Tạo Hóa, thì công phu này hoàn tất.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền: Ngoài huyền cơ cuả tạo hóa ra, chẳng có gì khác cả.
 6.2 Ngã gia đoan chủng tự gia điền: Trong người có ruộng có thể cánh tác được, không cần cầu bên ngoài.
Khả dục linh miêu hoạt vạn niên: Ruộng ở trong thân có thể nuôi dưỡng sinh mệnh, trường sinh bất lão.
Hoa tự hoàng kim bào bất đại: Hoa nở ở đó là Kim Hoa, không quá lớn. Kim Hoa tức là Chân Khí. Sơ khởi thì bao trùm đan chủng, nhỏ bé non nớt.
Tử như ngọc lạp quả giai viên: Lớn bé chỉ vẻn vẹn như hạt thóc.
Tài bồi toàn lại trung cung thổ: Ý này là trọng điểm của công phu.
Quán khái tu bằng thượng dung tuyền: Khí đi lên trên, Thượng Đan Điền có Dịch chảy xuống.
Hữu triêu nhất nhật công hành mãn: Hỏa hầu đầy đủ rồi, công phu đến độ, vậy là thẳng tiến đến chỗ công quả viên mãn.
Tiện thị Bồng lai Đại La Tiên: Đạt Đại La Kim Tiên, tối cao của Tiên giới.

6.3 Chúng diệu chi môn hà xứ cầu,
Cơ quan bát chuyển thủy nghịch lưu,
Vạn trượng thâm phiêu ưng kiến để,
Cam tuyền dũng khởi mãn sơn đầu.

“Thủy nghịch lưu”, vì Thận Khí bốc lên trên, cho nên nói là “nghịch lưu”. Thận Khí là công năng của Hậu Thiên, xuất ra từ Tiên Thiên Thận Thủy, toàn nhờ vào “Thiết ngưu canh địa” mà có được, là hình tượng của xe trâu (ngưu xa) vận chuyển lên sườn núi. “Sơn đầu” tức là đỉnh đầu. Thận Khí tới đỉnh đầu, thì từ trong miệng sinh ra tân dịch mà thành “Cam tuyền dũng khởi”. Đó là Khí nhiều sinh Dịch, thể hiện của Nhâm Đốc tương thông.


6.4 Thận Thần Huyền Minh tự Dục Anh - Huỳnh Đình Kinh
6.5 Tâm Thần Đan Nguyên tự Thủ Linh - Huỳnh Đình Kinh
6.6 Can Thần Long Yên tự Hàm Minh - Huỳnh Đình Kinh
6.7 Phế Thần Hạo Hoa tự Hư Thành - Huỳnh Đình Kinh
6.8 Đảm Thần Long Diệu tự Uy Minh - Huỳnh Đình Kinh.

Chú ý: Ngũ tạng trong đồ hình thiếu mất Tì, lục phủ thì chỉ đề cập đến Đảm. Tì là Trung Ương Thổ, đó là ý ẩn dụ, là nơi môi giới để Thủy Hỏa giao tiếp. Việc tu luyện công phu tự mình đã có nó, không thể thiếu được, cho nên không cần phải luyện cái dụng của Tạng Phủ chi Thần. Còn Đởm, no là cái duy nhất trong lục phủ. Nguyên là ngũ tạng đều chủ về tàng tinh bất lậu, lục phủ chủ về chuyển hóa vật chất mà không tàng, theo công năng đó thì Đảm không tàng trữ tinh chất của ngũ tạng, nên đặc biệt cho là cường điệu. Hậu thế lấy “Tam Tiêu” thay Đảm làm đại biểu cho lục phủ, theo “Lục Tự Quyết”. (đoạn này khó hiểu quá, dịch không thông được).

6.9 Hậu tam quan: Vĩ Lư hạ quan, Giáp Tích trung quan, Ngọc Chẩm thượng quan, hợp xưng là tam quan. Vị trí của tam quan này, phát triển đến thời Chung Lã (Chung Ly Quyền và Lã Đồng Tân), có chỗ bất đồng về việc mô tả. Trong “Linh bảo tất pháp-Trửu hậu phi kim tinh đệ ngũ”, Chung Lã cho rằng: Huyệt Thiên Trụ là thượng quan, tương đương với dưới đốt sống cổ thứ 3; Huyệt Thần Đạo là trung quan, tương đương với dưới đốt sống ngực thứ 5; Huyệt Mệnh Môn là hạ quan, tương đương với dưới đốt sống lưng thứ 2.

6.10 Tiền tam Đan Điền: Khí Hải là Hạ Đan Điền, Giáng Cung là Trung Đan Điền, Nê Hoàn là Thượng Đan Điền.

6.11 Thập nhị lâu đài tàng mật quyết: “Thập nhị trùng lâu”, là xương sụn của cổ họng. Mật quyết là ở tại ranh giới Khí Dịch tương giao, Yết Tân (nuốt nước bọt) hoặc Yết Khí (nuốt khí) là nói về việc Nghịch Cầu Đan Chủng.

6.12 Âm Dương Huyền Tẫn xa: Huyền Tẫn, là nơi vạn vật sinh. Trần Đoàn mượn để làm công phu dự bị cho việc Luyện Tinh Hóa Khí. Đem Huyền Tẫn xa để ví với việc xuất hiện của Đan Chủng (nội đan), tại cái ống bễ lò rèn (Thác thược: ống bễ lò rèn, ví với khoảng không hư vô) ở nơi Âm Dương Hỗn Độn, Chân Khí do đó mà xuất hiện hình dạng. “Lão Tử Đạo Đức Kinh-Đệ lục chương”: “Cốc Thần bất tử, thị vị Huyền Tẫn. Huyền Tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.”

6.13 Thủy Hỏa giao tiếp địa: “Địa” này là tại Hạ Đan Điền, nói lên Chân Khí lúc mới sinh ở đó. “Ngộ Chân Thiên” nói: “Yếu tri sản dược xuyên nguyên xứ, Chỉ tại tây nam thị bản hương” và: “Ỷ tha Khôn vị sinh thành thể, Chủng tại Càn gia giao cảm cung”, đều là ý đó.

6.14 Giáp Tích song quan thấu đỉnh môn, Tu hành lộ kính thử vi căn: Khí tất phải dọc theo Giáp Tích đi lên, đó là phương pháp luyện khí căn bản. Khí đến đỉnh đầu, đỉnh đầu có Nê Hoàn Cung, đó là đích cuối cùng của tu luyện.
(Tiến sĩ Viên Khang Tựu)


Nhận thức về Tu Chân Đồ
1/ Thân thể con người có 360 đốt xương, 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, sau có ba cửa tam quan là: Vĩ Lư, Giáp Tích, Ngọc Chẩm. Vĩ Lư tại đầu dưới cùng của xương sống, cửa quan này có thể thông với Khí trong Thận. Từ cửa quan này xuất phát một đường Tủy, gọi là Tào Khê, cũng gọi là Hoàng Hà, là đường thăng Dương. Thẳng đến chỗ hai xương vai hẹp lại là Giáp Tích. Lên tiếp tới Não là Ngọc Chẩm. Đó là hậu tam quan. Trước có ba đan điền là: Nê Hoàn, Thổ Phủ, Ngọc Trì. Nê Hoàn là Thượng Đan Điền, vuông 1 tấc 2 phân, trong có một khiếu, là chỗ tàng Thần. Từ Mi Tâm đi vào chính giữa Thiên Môn, vào 1 tấc là Minh Đường, vào thêm 1 tấc là Động Phòng, vào thêm 1 tấc nữa là Nê Hoàn. Dưới Mi Tâm là sống mũi, cũng gọi là Lôi Đình Phủ. Từ Kim Kiều đến miệng có hai khiếu thông hầu, gọi là Thước Kiều. Hầu là xương cổ, là nơi ra vào của Nội Ngoại Khí. Sau có xương sụn mềm gọi là Yết (cổ họng), là chỗ tiếp nhận đồ ăn uống, nó thông với Ruột (tràng) và Dạ dày (vị). Hầu có 12 đốt xương, gọi là Trùng Lâu. Thẳng xuống là Phế khiếu, cho đến tận Tâm, phía trên Tâm có xương, gọi là Cửu Vĩ. Phía dưới Tâm có huyệt, gọi là Giáng Cung, là chỗ Long Hổ giao hội. Thẳng tiếp xuống 3 tấc 6 phân, là Thổ Phủ (nồi đất), là Huỳnh Đình huyệt, là Trung Đan Điền.

Tâm Thận cách nhau 8 tấc 4 phân, người có 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông, ứng với khoảng cách giữa trời và đất là 8 vạn 4 ngàn dặm. Người có 360 đốt xương, ứng với Khí Dịch thăng giáng trong trời đất một vòng là 360 ngày.

2/ Trời có Cửu Cung, đất có Cửu Châu. Hạ Đan Điền của người có Cửu Khiếu, đó là hình Cửu Châu của đất. Nê Hoàn cung có chín huyệt, tiếp với Cửu Cung của trời. Xương đầu có tám miếng, ứng với tám phương. Có tên là Di La Thiên Ngọc Đế Cung, cũng gọi là Thuần Dương Thiên Cung. Trong có một huyệt, gọi là Huyền Linh (Khung) Chủ, cũng gọi là Nguyên Thần Cung. Dưới có lưỡi (thiệt), trong lưỡi có Kim Tỏa Quan, đối diện với lưỡi, gọi là Thước Kiều. Huyệt Nhân Trung dưới mũi (Tị), là đối diện với Kim Tỏa Quan, trong nó có Đốc Mạch, đó là căn bản của con người, trong Thượng Cửu Khiếu, có một cái là Tính Căn Ngọc Tuyền, cũng gọi là Hoa Trì. Dưới lưỡi có bốn khiếu, hai khiếu thông Tâm, sinh Dịch. Hai khiếu thông Thận, sinh Khí. Thần Thất Nê Hoàn Cửu Khiếu là Thiên Hoàng Chi Cung. Trong có một huyệt, hình như con gà (Kê Tử), lớn như Bồng Đài, chính là Côn Luân. Thích gọi là Tu Di Sơn. Người tu chân không thể không biết được.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Cửu u minh nguyệt động không vô”, chỉ ra trên đầu có Cửu Cung.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Cửu nguyên chi sơn hà đình đình, Trung hữu chân nhân khả sử lệnh” cũng nói: “Nê Hoàn cửu chân giai hữu phòng, Phương viên nhất thốn xứ thử trung”, trên đầu có Cửu Chân, mỗi cái chiếm một tấc. Trong đồ hình có câu: “Bất diệt chi đạo, tồn tư Nê Hoàn cửu chân”, cũng nói: “Não hữu cửu ban, phòng hữu nhất thốn”. Cửu Chân trong hình là Cao Chân, Thiên Chân, Thần Chân, Thượng Chân, Huyền Chân, Tiên Chân, Hư Chân, Thái Chân, Chí Chân.

“Động chân Thái thượng đạo quân nguyên đan thượng kinh” nói: “Trong đầu có Cửu Cung: Từ lưỡng mi đi vào một tấc là Minh Đường Cung, vào hai tấc là Động Phòng Cung, vào ba tấc là Đan Điền Cung (Nê Hoàn Cung), vào bốn tấc là Lưu Châu Cung, vào năm tấc là Ngọc Đế Cung. Trên Minh Đường Cung một tấc là Thiên Đình Cung, trên Động Phòng Cung một tấc là Cực Chân Cung, trên Đan Điền Cung một tấc là Huyền Đan Cung, trên Lưu Châu Cung một tấc là Thái Hoàng Cung.”

3/ Tâm: Thần như Chu Tước, hình như nhụy sen treo ngược, có thể biến Thủy thành Huyết. Thần Tâm tên là Đan Nguyên, tự Thủ Linh, nặng 12 lạng, nằm dưới Cửu Vĩ một tấc, màu sắc như màu đỏ của vải, trong có 7 lỗ 3 sợi (thất khổng tam mao). Bậc Thượng Trí, lỗ tim thông sáng. Người Trung Trí, 5 lỗ tâm huyệt thông khí. Kẻ Hạ Trí không có lỗ (hình như đúng là có 3 lỗ), khí minh không thông. Tâm là con của Gan, là mẹ của Tì, lưỡi là quan của nó. Khiếu thông với tai, tai trái là Bính, tai phải là Đinh. Dịch là mồ hôi, Thận tà mà nhập Tâm thì mồ hôi nhiều, vị của nó ngọt, Tâm hợp với phủ của Tiểu Trường.

“Huỳnh Đình kinh” nói: “Tâm thần Đan Nguyên tự Thủ Linh”. Tâm thuộc Hỏa, sắc đỏ, trong ngũ hành là Chu Tước ở phương Nam, tàng Thần, chủ Huyết Mạch.

4/ Giáng Cung là chỗ Long Hổ giao hội. Đi xuống 3 tấc 6 phân là Thổ Phủ, Huỳnh Đình huyệt, Trung Đan Điền. Trái có Minh Đường, phải có Động Phòng. Thần Vô Anh ở trái, là Gan. Thần Bạch Nguyên ở phải, là Phế. Giữa còn 1 tấc 2 phân, là nơi tàng Khí, là Đỉnh luyện Khí. Thẳng tiếp xuống Rốn (Tề) là 3 tấc 6 phân. Cho nên nói: Trên trời ba mươi sáu, dưới đất ba mươi sáu, từ trời xuống đến đất là 8 vạn 4 ngàn dặm, nên từ Tâm đến Thận là 8 tấc 4 phân. Thiên Tâm 3 tấc 6 phân, Địa Thận 3 tấc 6 phân, giữa có Đan Điền 1 tấc 2 phân, không phải là 8 tấc 4 phân sao? Cửa rốn (Tề môn) còn gọi là Sinh Môn, có Thất Khiếu, thông với ngoại thận, là khiếu mà tinh thần bị tiết lậu, tên là Yển Nguyệt Lô, thuộc Nhâm Mạch. Dưới có Cửu Khiếu, là Địa Ngục Phong Đô. Cũng tên là Khí Hải, xuống khoảng 1 tấc 3 phân là Ngọc Trì, cũng gọi là Hạ Đan Điền, là chỗ để tàng Tinh và Thái Dược. Trái có Minh Đường, phải có Động Phòng, cũng không có huyệt, vuông 1 tấc 3 phân. Ở đó có hai khiếu, thông với Nội Thận. Trong Thận có khiếu, thông với Vĩ Lư. Từ Vĩ Lư thông Lưỡng Thận Đường cho đến hai huyệt Túc Tam Lí dưới đầu gối, xuống tiếp tới huyệt Dũng Tuyền, đó là quan khiếu tương thông với toàn thân.


Thượng Đan Điền: là Nê Hoàn, từ Mi Tâm đi vào 3 tấc.
Trung Đan Điền: là Huyệt Huỳnh Đình dưới Thổ Phủ.
Hạ Đan Điền: là Ngọc Trì dưới Khí Hải 1 tấc 3 phân.

Tâm, Cửu Vĩ (Giáng Cung) <---- 3 tấc 6 phân ----> Thổ Phủ (Huỳnh Đình đường kính 1 tấc 2 phân) <---- 3 tấc 6 phân ----> Rốn, Khí Hải (Ngọc Trì). Vậy, khoảng cách giữa Tâm và Thận tổng cộng là 8 tấc 4 phân.

Giáng Cung, trong huyệt là Ngã Tính, là quẻ Li, là giờ Ngọ, cũng gọi là Nam Cung, là nơi Thần Thất được luyện, cũng gọi là Xá Nữ, là Chân Âm, cũng tên là Bích Nhãn Hồ. Tại phương Nam, trên có xương che phủ, y gia gọi là Cửu Vĩ. Để thoái Hậu Cửu Thiên Tư Lự Chi Thần, nên gọi: “Long tòng hỏa lí xuất” là như vậy.
“Nội Kinh Đồ” có câu: “Bích Nhãn Hồ Tăng Thủ Thác Thiên”.

5/ Phế, thần như Bạch Hổ, tượng như khánh treo ngược, nằm trên ngũ tạng, đối vời bào thai thì như là che phủ, nên gọi là Hoa Cái (Lọng hoa che phủ). Thần là Hạo Hoa, tự Hư Thành, nặng 3 cân 3 lạng, 6 lá 2 tai, tổng cộng 8 lá. Phế là con của Gan, là mẹ của Tì. Trong tàng thất phách, như trẻ nhỏ, tên là: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế. Mũi (Tị) là quan của nó, trái là Canh, phải là Tân. Ở khí làm ho, ở dịch làm nước mắt. Ở hình là da lông. Trên thông khí tới não, dưới thông khí tới tì, đó là những khí thuộc Phế, Phế là căn bản của Hô Hấp. “Huỳnh Đình” nói: “Suyễn tức hô hấp thể bất khoái, Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục hư”.
“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Phế thần Hạo Hoa tự Hư Thành”. Phế là cái lọng hoa che (Hoa Cái) lục phủ ngũ tạng, công năng chính của nó là điều hòa khí toàn thân, thân của nó rỗng nên có thể nạp khí, cho nên tên tự là Hư Thành. Màu của nó trắng, cho nên tên là Hạo Hoa.

“Suyễn tức hô hấp thể bất khoái, Cấp tồn Bạch Nguyên hòa lục hư”: nếu cảm thấy hô hấp trong thân không thông, tức thời nhanh chóng tập trung chú ý vào Phế thần màu trắng, để điều hòa lục hư.

Một tên là Tây Sơn Bạch Hổ. Ở Canh. Là Tinh của Kim. Thuộc quẻ Đoài. Ở phương Tây. Theo Đạo là Phách. Là Tình. Là mẹ của Thủy Tinh. Ở ngũ tạng là Phế. Tại trời là trăng. Là nhà của Ngã Phách.

6/ Tì thuộc trung ương Thổ, thịnh cả bốn mùa, là Hoàng Đế, thần như chim Phượng, tượng như Phúc Bồn (bồn che), tên là Thường Tại, tự là Hồn Đình, nhìn mặt trước thì che trên rốn (Tề), nhìn ngang thì che dạ dày (Vị), là Khí của Khôn, là Tinh của Thổ. Ở dưới Tâm 3 tấc, nặng 1 cân 2 lạng, to 3 tấc, dài 1 thước. Tì là con của Tâm, là mẹ của Phế, ngoài thông với lông mi, miệng là quan của nó. Thần của nó hay đố kị. Tì không định hình, chủ về Thổ, Âm. Cho nên Tì là then chốt của ngũ tạng, nó khai khiếu ở miệng, ở hình là gò má. Tì mạch xuất phát từ Ẩn Bạch, là chỗ của Bản Ý. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Trị nhân bách bệnh tiêu cốc lương, Hoàng y tử đái long hổ chương”.

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Tì thần Thường Tại tự Hồn Đình”. Do Tì thuộc Thổ, ở vị trí trung ương, bốn mùa không nhờ Thổ thì không thịnh vượng được, nên gọi là Thường Tại.

7/ Thận thuộc bắc phương Thủy, thuộc quẻ Khảm, hình như Huyền Lộc (Hươu đen), hai đầu, tên là Huyền Minh, tự là Dục Anh, hình như quả trứng đá, nằm đối diện bên cạnh eo lưng, nặng 3 cân 1 lạng, chủ về phân Thủy và Khí, tưới tắm toàn thân, như cây có gốc. Trái tên là Thận, phải tên là Mệnh Môn. Là phủ của sinh khí, là lò của tử khí, nếu giữ thì bền lâu, nếu dùng thì hao kiệt. Là mẹ của Gan, là con của Phế, tai là quan của nó. Trời sinh Ngã, do khí lưu động mà biến đổi, gọi là Tinh. Tinh Khí qua lại, là Thần. Thần này, Thận tàn Thần Trí của nó. Trái thuộc Nhâm, phải thuộc Quý. Ở giờ là Tí Hợi. Ở khí là Xuy (Thổi). Ở dịch là nước bọt. Ở hình là xương (cốt). Kinh của nó tới Thượng Tiêu, Doanh (khí) của nó tới Trung Tiêu, Vệ (huyết) của nó tới Hạ Tiêu. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Thận bộ chi cung huyền khuyết viên, Trung hữu đồng tử minh thượng huyền. Chủ chư lục phủ cửu dịch nguyên, ngoại ứng lưỡng nhĩ bách dịch tân.”

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Thận thần Huyền Minh tự Dục Anh”. Thận sinh Thủy, là Huyền Vũ ở phương bắc trong ngũ hành, vì huyền thủy đen sâu thăm thẳm, cho nền tên là Huyền Minh. Thận tàng Tinh, chủ về sinh dục, cho nên gọi là Dục Anh.

“Nạn kinh tam thập lục nạn” nói: “Thận có hai quả như thế nào? Tự nhiên là thận có hai quả, nhưng không phải đều là Thận. Quả bên trái gọi là Thận, quả bên phải gọi là Mệnh Môn.”

8/ Đởm (mật), là Tinh của Kim, là Khí của Thủy, màu xanh, là một lá ngắn nằm cạnh Gan. Đởm là can đảm. Người có Đởm to tất không sợ hãi. Thần tên là Long Diệu, tự là Uy Minh. Hình như Quy Xà hỗn hình. Dáng như dải lụa treo. Nặng 3 lạng 3 thù (1 thù = 1/24 lạng). Là phủ của gan. Nếu theo căn cứ, Đởm không thuộc trong số ngũ tạng, như vậy thì quy về lục phủ, nhân vì Đởm cũng nhận thủy khí, đồng đạo với Khảm, vậy cũng không thể quy về lục phủ, cho nên có tạng Đởm biệt lập, hợp với Bàng Quang, cũng chủ về lông tóc. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Chủ chư khí lực nhiếp hổ binh, ngoại ứng nhãn đồng tị trụ gian. Não phát tương phù diệc câu tiên, cửu sắc cẩm y lục hoa quần.”
“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Đởm thần Long Diệu tự Uy Minh”. Đởm là Âm Mộc, ứng với vị trí Thanh Long ở phía Đông. Cho nên tên là Long Diệu. Đởm là quan trung chính, quyết đoán từ nó mà ra, vì nó trung chính không thiên lệch, nên tự là Uy Minh.

9/ Gan, thần như Thanh Long, hình như quả bầu treo, gần với tim, trái có 3 lá, phải có 4 lá. Thần tên là Long Yên, tự Hàm Minh. Nặng 4 cân 4 lạng. Gan là mẹ Tâm, là con Thận. Trong gan có 3 hồn: Sảng Linh, Đài Quang, U Tinh, mắt là quan của nó, mắt trái là Giáp, mắt phải là Ất. Đàn ông đến 60 tuổi, khí gan suy, lá gan mỏng, Đởm ít dần, mắt mờ dần. Ở hình là gân, mạch gan hợp với Mộc, là tạng của Hồn. Ở dịch là nước mắt, nếu Thận tà nhập gan, thì nhiều nước mắt. Đởm là phủ của gan, Đởm hợp với gan. “Huỳnh Đình kinh” nói: “Hòa chế hồn phách tân dịch bình, ngoại ứng nhãn mục nhật nguyệt tinh, bách kha sở chung tồn Vô Anh, dụng đồng thất nhật tự sung doanh.”

“Huỳnh Đình nội cảnh kinh” nói: “Can thần Long Yên tự Hàm Minh, Ế uất đạo yên chủ trọc thanh”. Gan chủ gân, màu của nó xanh, trong ngũ hành thì thuộc Thanh Long ở phương đông. Gan xuất khiếu ở mắt, thuộc thiên can Dương Giáp và Âm Ất.

“Hoàng đế nội kinh - Tố vấn - Thượng cổ thiên chân luận đệ nhất”: “Đàn ông.......48, dương khí suy kiệt ở trên, mặt khô, tóc mai bắt đầu bạc. 56, khí gan suy, gân không động được.”

Một chữ Đông Hải Thanh Long. Ở Giáp. Dịch của Mộc. Thuộc quẻ Chấn. Ở phương đông. Là Mộc trong ngũ hành. Là Hồn trong đạo. Là Tính. Là mẹ Hỏa Thần. Trong ngũ tạng là gan. Tại trời là mặt trời. Là chỗ của Ngã Hồn.


10/ Vĩ Lư quan, một tên là Cửu Khiếu, cũng tên là Cửu Đầu Sư Tử, cũng gọi là Thái Tử Xạ Cửu Trùng Thiết Cổ, Âm Quan Cố Bế, Thường Niên Bất Năng Khai, tên là Cửu Trùng Thiết Cổ. Thái Tử, là Thuần Dương Khí có thể Đề Hồ Quán Đỉnh (đạo phật ví Đề Hồ với tinh chất sữa bò = phật pháp tối cao. Đề Hồ Quán Đỉnh là việc rót trí tuệ vào người để đạt được giác ngộ), mới có thể quán thông, cho nên gọi là Xạ Cửu Trùng Thiết Cổ, đó là đường tắt để lên trời. Một tên là Địa Trục Thần Hồ, cũng tên là Triều Thiên Lĩnh. Một tên là Long Hổ Huyệt. Một tên là Tam Xoa Cốt. Trong Thận có Kim Đỉnh, trong ngoài tương thông, tổng có 3 đường thông lên Giáp Tích, thẳng thấu lên đỉnh môn tới Nê Hoàn, thông với cốt tủy toàn thân.

11/ Khí trong Đan Điền đó: trái xanh, phải vàng, dưới đen, trên trắng. Hạ Đan Điền, Chân Hổ, Khảm Địa, Anh Nhi xứ, Phù Tang Minh, Khí Hải, Thủy Tinh Cung, Tẫn Hộ. Huyệt trong nó, là Ngã Chân Tinh Mệnh Đế (chân tinh gốc mệnh của ta). Trên 1 tấc 3 phân, là chỗ của Tạo Hóa, là căn bản của Thiên Địa. Là chỗ của Bạch Đầu Lão Tử Thanh Huyền, là Ngã Mệnh Tạo Hóa Sơn Xuyên. Chân Nhất Xứ, Thủy Trung Kim, gọi là Kim Tinh, là Ngã Tiên Thiên Chi Chí Tinh, cũng có nói đến những câu: “Hổ hướng thủy trung sinh”, “Nhất dương phục sơ”, “Tí thời”, “Hải để nguyệt”, “Nhân môn”, “Sơ sinh ngã căn cơ”. Người tu chân không thể không biết.

“Nội Kinh đồ” cũng nói: “Bạch đầu lão tử mi thùy địa”
“Thủy Trung Kim”: trong quẻ Khảm có một hào Dương. Khảm tượng Anh Nhi. “Chung Lã truyền đạo tập - Luận ngũ hành đệ lục” nói: “Thận, là thủy. Trong Thủy có Kim. Kim vốn sinh Thủy, lúc hạ thủ phải biết Thủy trung Kim. Thủy vốn ghét Thổ, sau khi Thái Dược nên đắc được Thổ quy Thủy. Long là tượng của Gan, Hổ là hình của Phế. Dương Long xuất ra từ cung Li, Âm Hổ sinh từ vị trí Khảm. Ngũ hành nghịch hành. Khí truyền cho Mẫu.”

Chân Hổ, tức Chân Dịch trong Thận Khí. Chung Lã gọi là: “Chân Nhất Chi Thủy”, “Chung Lã truyền đạo tập - Luận Long Hổ đệ bát” nói: “Thận Thủy sinh Khí, trong Khí có Chân Nhất Chi Thủy, tên là Âm Hổ, Hổ gặp Dịch mà tương hội. Tâm Hỏa sinh Dịch, trong Dịch có Chính Dương Chi Khí, tên là Dương Long, Long gặp Khí mà tương hợp”.

“Nhất Dương phục sơ”: trong năm, đến Đông Chí thì Nhất Dương sinh; trong ngày, đến giờ Tí thì Hải Để Nguyệt (trăng đáy nước), đó là cái nghĩa Âm tận Dương sinh. Chân Dương Chi Khí xuất hiện, căn cơ của sinh mệnh đều dựa vào đó.

12/ Hai quả Thận, là Lưỡng Nghi. Trong có Liên Hoàn, là Ngã Chân Tinh. Trong tàng Xích Bạch nhị Khí (hai khí đỏ trắng). Khi còn nằm trong bụng mẹ, chưa có thân này, đã có huyệt đó, vì có huyệt đó, mới có thân này. Trái là Huyền Dương, phải là Tẫn Âm, trong huyệt là Ngã Hậu Thiên Chi Tinh Hải, cũng gọi là Chân Diên. Nho gọi là Thái Cực. Đạo gọi là Thủy Hương Diên, là Bắc Phương Túc Sát Chính Khí Tử Hà Xa. Thuận thì thành người, nghịch thì thành tiên. Một tên là Tào Khê. Một tên là Tổ Cung. Thông lên xuống hai mắt, giáng Hoa Trì. Dưới lưỡi xuất một khiếu là Ngọc Tuyền.

“Chân Diên”, tức Chân Nhất Chi Thủy trong Chân Khí. “Chung Lã truyền đạo tập - Luận sưu thiêm đệ thập nhất” nói: “Xuất ra từ trong Thận ta, tàng  Chân Khí của cha mẹ mà thành Diên, Chân Nhất, Chính Dương hợp với nó Dược biến đổi mà thành Hống. ... Chân Diên là do Chân Khí tự thân ta hợp mà được. Chân Diên sinh trong Chân Khí, trong Khí là Chân Nhất Chi Thủy???”

13/ Đào Khang tự Hợp Diên, tên là Đỉnh Liên Hoa, Quan Châu Y, như dáng Chân Nhân. Ở Thận Cung có các Khí Bích, Tử, Bạch, Lục, Thanh, Xích, Thương, là chỗ biến hóa của 8 phương trời nơi phương bắc (Bắc phương bát thiên sở hóa).

14/ Giáp Tích song quan, là đường tắt để Thần Tiên thăng giáng, là mạch trong người ta, là huyệt Cao Hoang, nói song quan vì trong có cái ròng rọc kéo nước. Trái là Thái Dương, phải là Thái Âm. Dương Thăng Âm Hô lộ, thông huyệt Thiên Trụ, cũng tên là Nội Song Lâm, thông với Ngoại Song Lâm, Dương Quan mạch phục ở trong. Huyệt này hun đốt quan khiếu, hạ tới Dũng Tuyền, thượng tới Nê Hoàn, kinh lạc tiếp với Giáng Cung, Hoa Trì, lấy Thủy giáng vào Hoa Cái, là chỗ của Ngũ Hành, là bên trong của gốc mệnh Hạ Đan Điền (Hạ Đan Điền mệnh đế chi nội).

“Nội Kinh đồ” nói: “Giáp Tích song quan thấu đỉnh môn, tu hành lộ kính thử vi tôn”.

Tham khảo châm cứu huyệt vị “Cao Hoang huyệt”, tại dưới đốt sống thứ tư của cột sống ngực, cách mạch Đốc 3 tấc.

15/ Ngọc Chẩm quan, chỗ này có một tên là Dương Cung Ngọc Kinh Sơn, Thiên Trụ, Thái Ất huyệt, một tấc trước chỗ đến xương đại trùy. Đó là đường tắt để đi ngược lên trời. Bên trong Hoàng Long đảo cuốn lên, tưới nước Tương Giang (Xung Tương Giang thủy), trên dưới thông suốt. Cửa quan này rất chặt, Dương Thần giữ ở đó, tới đó tất phải dùng Dương Khí, mới có thể thông phá được, hoá thành Chân Khí, tới Thước Kiều mà tương hội với Ngưu Nữ, sinh ra Anh Nhi.

16/ Hai khiếu dưới lưỡi, tên là Huyền Ưng. Cái ở sau tên là Yết, nuốt xuống tất cả đồ ẩm thực. Cái ở trước tên là Hầu, có 12 đốt xương, là thập nhị trùng lâu, là nơi thông suốt thanh khí.

17/ Rốn là Sinh Môn, Thái Ất Thần Quân ở đó, chủ Tính Mệnh của người, điều khiển 1 vạn 2 ngàn tinh hoa toàn thân (?).
Khí công và Nội Kinh Đồ
Tiến sĩ Viên Khang Tựu

Nhận thức về Nội Kinh Đồ

Tu Chân Đồ và Nội Kinh Đồ là bản thiết kế để dạy tu luyện nội đan của đạo giáo. Việc tu luyện nội đan bắt đầu bằng công phu luyện khí, sau khi tu được Dương Thần thì tiếp tục dùng Dương Thần để dựa vào một hệ thống công trình tạo mệnh thay tạo hóa cải biến sinh mệnh. Tu Chân Đồ và Nội Kinh Đồ từ trước tới nay được đạo môn coi như bảo vật không truyền ra ngoài, cho dù trong giáo mà chưa có một trình độ tu luyện tâm tính cùng với tri trức về đạo học nhất định thì cũng không được thầy sở truyền. Hai đồ hình này tổng kết sâu sắc công phu Luyện khí tồn tư trong Huỳnh Đình Kinh cùng với kỹ xảo về lí luận tu đan được nói rõ trong cuốn Tính Mệnh Khuê Chỉ cuối đời Minh. Trong chúng bao gồm tri thức về sinh lí cơ thể con người cũng các khái niệm y học. Là người luyện khí tất nên hiểu rõ hai đồ hình này.

1. Đồ hình này do Lưu Tố Vân khắc năm Quang Tự thứ 12, tức năm 1886.

2. Bản khắc của đồ hình này tại Bắc Kinh Bạch Vân Quán là do mô phỏng mà có.

3. Đồ hình này khắc lần đầu giữa khoảng năm Càn Long thứ 7 (1742) và Quang Tự thứ 12 (1886).

4. Phong cách của đồ hình này thừa kế kỹ xảo minh họa của cuốn Tính Mệnh Khuê Chỉ cuối đời nhà Minh, đó là văn tự và đồ họa hội ý. Trong đồ hình cũng có những câu ẩn mật khó hiểu, đó là theo phong cách giấu từ của sách về nội đan.

5. Trong đồ có thơ rằng:
Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa.
Bích nhãn hồ tăng thủ thác thiên.
Nhược hướng thử huyền huyền hội đắc.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền.
Là lấy từ “Lã Tổ toàn thư - Quyển tứ văn tập trung - Ngũ ngôn luật thập lục đầu”:
Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa.
Bích nhãn hồ tăng thủ chỉ thiên.
Nhược vấn thử huyền huyền hội đắc.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền.
Mà “Lã Tổ toàn thư” bản khắc gốc là do Lưu Thể Nộ năm thứ 7 Càn Long (1742) sưu tập mà thành. Như vậy, đồ hình ra đời sau “Lã Tổ toàn thư”.


6. Đan thi dịch giải:

6.1 Thiết ngưu canh địa chủng kim tiền: Chỉ vận chuyển Thận khí, công phu vận chuyển phân ra: Xe trâu (ngưu xa), xe dê (dương xa), xe hươu (lộc xa). Vì là sơ luyện, nên dùng xe trâu. “Chủng kim tiền” là ẩn dụ chỉ việc cày cấy thu hoạch được đồ quý báu, mượn ý để chỉ Kim Đan.
Khắc thạch nhi đồng bả quán xuyên: “Bả kim tiền quán xuyên”, thiên cơ ở trong đó, nên coi trọng. “Khắc thạch nhi đồng” ám chỉ cái vẽ ở trong đồ hình. “Nhi đồng bả quán xuyên” thành Bắc Đẩu, “Phá mê chính đạo ca” nói: “Nhược ngộ thần tiên thân chỉ quyết, tróc trú Bắc Đẩu chu thiên luân”, là nói cái đó.
Nhất lạp túc trung tàng thế giới: Tiểu vũ trụ đồng đẳng với đại vũ trụ, Đan Đầu Chủng Tử là toàn bộ nguồn gốc của sinh mệnh.
Bán thăng đương nội chử sơn xuyên: “Sơn xuyên” đại vũ trụ, huyền cơ cũng đồng với “Đương nôi phanh chử công phu”. Chính là tại Hỏa Hầu.
Bạch đầu lão tử mi thùy địa: “Bạch đầu” là Khí. Chỉ khí theo Đốc Mạch đi lên, tiếp tục dẫn Âm Dịch men theo đầu hạ giáng.
Bích nhãn hồ tăng thủ thác thiên: “Thủ thác thiên” chỉ Đáp Thước Kiều, Nhâm Đốc hai mạch nhờ vào đưa lưỡi lên hàm trên mà làm cho khí được thông suốt.
Nhược hướng thử huyền huyền hội đắc: Hiểu được huyền cơ của Tạo Hóa, thì công phu này hoàn tất.
Thử huyền huyền ngoại cánh vô huyền: Ngoài huyền cơ cuả tạo hóa ra, chẳng có gì khác cả.
 6.2 Ngã gia đoan chủng tự gia điền: Trong người có ruộng có thể cánh tác được, không cần cầu bên ngoài.
Khả dục linh miêu hoạt vạn niên: Ruộng ở trong thân có thể nuôi dưỡng sinh mệnh, trường sinh bất lão.
Hoa tự hoàng kim bào bất đại: Hoa nở ở đó là Kim Hoa, không quá lớn. Kim Hoa tức là Chân Khí. Sơ khởi thì bao trùm đan chủng, nhỏ bé non nớt.
Tử như ngọc lạp quả giai viên: Lớn bé chỉ vẻn vẹn như hạt thóc.
Tài bồi toàn lại trung cung thổ: Ý này là trọng điểm của công phu.
Quán khái tu bằng thượng dung tuyền: Khí đi lên trên, Thượng Đan Điền có Dịch chảy xuống.
Hữu triêu nhất nhật công hành mãn: Hỏa hầu đầy đủ rồi, công phu đến độ, vậy là thẳng tiến đến chỗ công quả viên mãn.
Tiện thị Bồng lai Đại La Tiên: Đạt Đại La Kim Tiên, tối cao của Tiên giới.

6.3 Chúng diệu chi môn hà xứ cầu,
Cơ quan bát chuyển thủy nghịch lưu,
Vạn trượng thâm phiêu ưng kiến để,
Cam tuyền dũng khởi mãn sơn đầu.

“Thủy nghịch lưu”, vì Thận Khí bốc lên trên, cho nên nói là “nghịch lưu”. Thận Khí là công năng của Hậu Thiên, xuất ra từ Tiên Thiên Thận Thủy, toàn nhờ vào “Thiết ngưu canh địa” mà có được, là hình tượng của xe trâu (ngưu xa) vận chuyển lên sườn núi. “Sơn đầu” tức là đỉnh đầu. Thận Khí tới đỉnh đầu, thì từ trong miệng sinh ra tân dịch mà thành “Cam tuyền dũng khởi”. Đó là Khí nhiều sinh Dịch, thể hiện của Nhâm Đốc tương thông.


6.4 Thận Thần Huyền Minh tự Dục Anh - Huỳnh Đình Kinh
6.5 Tâm Thần Đan Nguyên tự Thủ Linh - Huỳnh Đình Kinh
6.6 Can Thần Long Yên tự Hàm Minh - Huỳnh Đình Kinh
6.7 Phế Thần Hạo Hoa tự Hư Thành - Huỳnh Đình Kinh
6.8 Đảm Thần Long Diệu tự Uy Minh - Huỳnh Đình Kinh.

Chú ý: Ngũ tạng trong đồ hình thiếu mất Tì, lục phủ thì chỉ đề cập đến Đảm. Tì là Trung Ương Thổ, đó là ý ẩn dụ, là nơi môi giới để Thủy Hỏa giao tiếp. Việc tu luyện công phu tự mình đã có nó, không thể thiếu được, cho nên không cần phải luyện cái dụng của Tạng Phủ chi Thần. Còn Đởm, no là cái duy nhất trong lục phủ. Nguyên là ngũ tạng đều chủ về tàng tinh bất lậu, lục phủ chủ về chuyển hóa vật chất mà không tàng, theo công năng đó thì Đảm không tàng trữ tinh chất của ngũ tạng, nên đặc biệt cho là cường điệu. Hậu thế lấy “Tam Tiêu” thay Đảm làm đại biểu cho lục phủ, theo “Lục Tự Quyết”. (đoạn này khó hiểu quá, dịch không thông được).

6.9 Hậu tam quan: Vĩ Lư hạ quan, Giáp Tích trung quan, Ngọc Chẩm thượng quan, hợp xưng là tam quan. Vị trí của tam quan này, phát triển đến thời Chung Lã (Chung Ly Quyền và Lã Đồng Tân), có chỗ bất đồng về việc mô tả. Trong “Linh bảo tất pháp-Trửu hậu phi kim tinh đệ ngũ”, Chung Lã cho rằng: Huyệt Thiên Trụ là thượng quan, tương đương với dưới đốt sống cổ thứ 3; Huyệt Thần Đạo là trung quan, tương đương với dưới đốt sống ngực thứ 5; Huyệt Mệnh Môn là hạ quan, tương đương với dưới đốt sống lưng thứ 2.

6.10 Tiền tam Đan Điền: Khí Hải là Hạ Đan Điền, Giáng Cung là Trung Đan Điền, Nê Hoàn là Thượng Đan Điền.

6.11 Thập nhị lâu đài tàng mật quyết: “Thập nhị trùng lâu”, là xương sụn của cổ họng. Mật quyết là ở tại ranh giới Khí Dịch tương giao, Yết Tân (nuốt nước bọt) hoặc Yết Khí (nuốt khí) là nói về việc Nghịch Cầu Đan Chủng.

6.12 Âm Dương Huyền Tẫn xa: Huyền Tẫn, là nơi vạn vật sinh. Trần Đoàn mượn để làm công phu dự bị cho việc Luyện Tinh Hóa Khí. Đem Huyền Tẫn xa để ví với việc xuất hiện của Đan Chủng (nội đan), tại cái ống bễ lò rèn (Thác thược: ống bễ lò rèn, ví với khoảng không hư vô) ở nơi Âm Dương Hỗn Độn, Chân Khí do đó mà xuất hiện hình dạng. “Lão Tử Đạo Đức Kinh-Đệ lục chương”: “Cốc Thần bất tử, thị vị Huyền Tẫn. Huyền Tẫn chi môn, thị vị Thiên Địa căn. Miên miên nhược tồn, dụng chi bất cần.”

6.13 Thủy Hỏa giao tiếp địa: “Địa” này là tại Hạ Đan Điền, nói lên Chân Khí lúc mới sinh ở đó. “Ngộ Chân Thiên” nói: “Yếu tri sản dược xuyên nguyên xứ, Chỉ tại tây nam thị bản hương” và: “Ỷ tha Khôn vị sinh thành thể, Chủng tại Càn gia giao cảm cung”, đều là ý đó.

6.14 Giáp Tích song quan thấu đỉnh môn, Tu hành lộ kính thử vi căn: Khí tất phải dọc theo Giáp Tích đi lên, đó là phương pháp luyện khí căn bản. Khí đến đỉnh đầu, đỉnh đầu có Nê Hoàn Cung, đó là đích cuối cùng của tu luyện.
(Tiến sĩ Viên Khang Tựu)