Đức Sung Phù

A. Lỗ hữu ngột giả Vương Đài, tùng chi du giả, dữ Trọng Ni tương nhược.
Thường Quý vấn ư Trọng Ni viết: “Vương Đài ngột giả dã, tùng chi du giả dữ phu tử trung phân Lỗ. Lập bất giáo, tọa bất nghị, hư nhi vãng, thực nhi quy; cố hữu bất ngôn chi giáo, vô hình nhi tâm thành giả da? Thị hà nhơn dã?”
Trọng Ni viết: “Phu tử, thánh nhơn dã. Khưu dã trực hậu nhi vị vãng nhĩ! Khưu tương dĩ vi sư, nhi huống bất nhược Khưu giả hồ! Hề giả Lỗ quốc, Khưu tương dẫn thiên hạ nhi dữ tùng chi.”
Thường Quý viết: “Bỉ ngột giả dã, nhi Vương tiên sinh, kỳ dữ dung diệc viễn hĩ! Nhược nhiên giả, kỳ dụng tâm dã, độc nhược chi hà?”
Trọng Ni viết: “Tử sinh diệc đại hĩ, nhi bất đắc dữ chi biến, tuy thiên địa phúc trụy, diệc tương bất dữ chi di. Thẩm hồ vô giả, nhi bất dữ vật thiên, mạng vật chi hóa, nhi thủ kỳ tông dã.”
Thường Quý viết: “Hà vị dã?”
Trọng Ni viết: “Tự kỳ dị giả thị chi, can đảm Sở Việt1dã; tự kỳ đồng giả
thị chi, vạn vật giai nhất dã. Phù nhược nhiên giả, thả bất tri nhĩ mục chi sở

23

nghi , nhi du tâm hồ đức chi hòa . Vật thị kỳ sở nhất nhi bất kiến kỳ sở

táng, thị táng kỳ túc, do di thổ dã.”

4

Thường Quý viết: “Bỉ vị kỷ, dĩ kỳ tri , đắc kỳ tâm, dĩ kỳ tâm, đắc kỳ


56

thường tâm , vật hà vi tối chi tai?”

Trọng Ni viết: “Nhơn mạc giám ư lưu thủy, nhi giám ư chỉ thủy, duy

7

năng chỉ, năng chỉ chúng chỉ . Thụ mạng ư địa, duy tùng bá độc dã tại.

Đông hạ thanh thanh, thụ mạng ư thiên, duy Thuấn độc dã chính. Hạnh

8

năng chính sinh , dĩ chính chúng sinh. Phù bão thủy chi trưng, bất cụ chi

thực; dũng sĩ nhất nhơn, hùng nhập ư cửu quân, tương cầu danh nhi năng tự yếu giả, nhi do nhược thị; nhi huống quan thiên địa, phủ vạn vật, trực ngụ lục hài, tượng nhĩ mục, nhất tri chi sở tri, nhi tâm vị thường tử giả hồ? Bỉ thả trạch nhật nhi đăng giả, nhơn tắc tùng thị dã; bỉ thả hà khẳng dĩ vật vi sự hồ?9
CHÚ

1. Với nhãn quang nhị nguyên, thì ngay trong thân thể của ta sẽ thấy các tạng phủ như là nghịch với nhau cả (như nước Sở nước Việt cách biệt nhau vậy).

2. Tức là quên mất cả thinh sắc thị phi, mỹ ác...

3. 德之和(đức chi hòa), tức là “hòa” của Đạo và Đức, tức là chỗ mà Lão tử gọi “thượng đức bất đức”(上 德 不 德)cái Đức siêu việt của Đạo gồm nắm cả thị phi, thiện ác...

4. Cái “biết” 知 đây, là ám chỉ “chân trí”(真 智) (cái biết thật).


5. Tâm thường 常 心: tức là cái tâm thường trụ, bất biến đồng với Đạo thường (常 道)nơi mình. Chữ “tâm” trước, là ám chỉ cái tâm bất thường, còn vọng động của mình.

6. Chữ最 ở đây có nghĩa là “tụ”: hợp lại, tựu lại. Ý nói, tại sao chúng nhơn lại tựu về theo ông ta (Vương Đài).

7. Không ai lại đi cầu học nơi một kẻ mà lòng còn vọng động (náo loạn vì ngoại vật). Chỉ có sự điềm đạm hư vô là đặc tánh của bậc Thánh nhơn sống giữa sự náo động không dừng của thiên hạ. Cũng như mọi thứ cây cối đều thụ mạng nơi đất, thế mà chỉ riêng có cây tùng cây bách thì cành lá bốn mùa vẫn xanh tươi không thay đổi...vì nó còn giữ được đặc tính trường xuân của nó.

8. Chữ chính 正 đây, là chính kỷ 正 己. Chữ sinh 生 đây, nguyên là chữ tánh , hay là bản tánh本 性 (theo Quách Tượng).

9. Chống lại với tư cách “khuyến dụ” người theo đạo của phần đông các tôn giáo.


DỊCH NGHĨA
ĐỨC SUNG PHÙ
A. Nước Lỗ, có người cụt chơn, tên là Vương Đài. Số người theo học ngang với Trọng Ni.
Thường Quý hỏi Trọng Ni: “Vương Đài là kẻ cụt chơn, lại cùng Thầy chia hai học trò nước Lỗ. Người ấy, đứng thì không dạy điều chi; ngồi thì không nghị luận việcgì. Thế mà, người học đến thì không có gì cả, mà khi ra về thấy mình đầy đủ. Vậy thì, có lối dạy mà không cần đến lời, mặc nhiên mà cảm hóa được lòng người hay sao? Người ấy là người gì vậy?”
Trọng Ni đáp: “Phu tử là bậc Thánh nhơn đấy! Khưu nầy đi sau, chưa thể theo kịp đó. Khưu còn muốn tôn đó làm Thầy, huồng hồ là những kẻ không bằng Khưu! Nói chi là một nước Lỗ, Khưu nầy còn muốn dẫn cả thiên hạ mà cùng theo đó.”
Thường Quý nói: “Đó là kẻ cụt chơn, vậy mà được Phu tử gọi là bậc Thầy họ Vương, tất nhiên người ấy phải có cái gì khác xa với kẻ tầm

thường! Như vậy thì, riêng ông ta đã sử dụng cái Tâm như thế nào?”

Trọng Ni đáp: “Chết sống là việc lớn còn không làm cho đó biến đổi; Trời Đất dù sụp đổ, cũng không làm cho đó xao động. Xét rõ Tánh Mạng, mà không để cho vật ngoài dời đổi. Khiến vật hóa sinh, mà giữ lấy phần


chủ của vật hóa.”

Thường Quý nói: “Như thế nghĩa là gì?”
Trọng Ni đáp: “Có hai cách nhận thức sự vật, nếu đứng chỗ khác biệt

nhau mà xem, thì dù như gan với mật cũng thấy cách nhau xa như Sở với Việt; nhưng, nếu đứng chỗ đồng nhau mà xem, thì sẽ thấy vạn vật đều là một cả. Và nếu được vậy (tức là biết đứng chỗ đồng nhau mà xem vạn vật) thì đâu cần gì đến sự nhận thức của tai mắt nữa mà để cho lòng mình rong chơi nơi chỗ ‘hòa’ của Đức. Vì vậy mà coi sự mất một chơn của mình như một hòn đất bị đánh rơi thôi!”
Thường Quý nói: “Ông ấy tu kỷ, lấy cái biết của mình mà xét được cái tâm của mình; lấy cái tâm của mình mà xét được cái tâm thường của mình. Nhưng rồi, tại sao người người lại chạy về với ông ấy?”
Trọng Ni nói: “Người ta, không ai lại soi mình ở làn nước chảy, mà soi mình ở làn nước đứng. Chỉ có cái ‘lặng đứng’ mới dừng lại được cái lòng mong lặng đứng của người người. Cùng thụ Mạng nơi Đất mà riêng chỉ có cây tùng cây bách là luôn luôn tồn tại: một màu xanh xanh, bất cứ ở mùa nào, mùa hạ hay mùa đông. Cùng thụ Mạng nơi Trời mà riêng chỉ có ông Thuấn là giữ được cái Chánh của mình. Cầm đầu thiên hạ mà chính được cái Tánh của mình, thì chính được mọi người. Hạng người mà giữ được Bản Tánh, thì bên ngoài rất điềm tĩnh, chẳng biết sợ gì cả, như người dũng sĩ một mình xông vào chín vòng quân. Vì hiếu danh mà họ còn dám làm việc ấy, huống hồ hạng người chủ được Trời Đất, chứa được vạn vật thì đối với cái thân nầy chẳng qua là gởi vào sáu hài, nương vào tai mắt, còn sự hiểu biết của họ thì bao la mà cái tâm họ chưa từng có chết? Con người ấy chọn ngày để trút bỏ cái giả. Người ta tự chạy theo đấy thôi, chứ tự người ấy đâu có chịu đem mình mà phụng sự cho thiên hạ?”

B. Thân Đồ Gia ngột giả dã, nhi dữ Trịnh Tử Sảnđồng sư ư Bá Hôn Vô Nhơn. Tử Sản vị Thân Đồ Gia viết: “Ngã tiên xuất, tắc tử chỉ, tử tiên xuất tắc ngã chỉ.”
Kỳ minh nhật hựu dữ hợp đường đồng tịch nhi tọa. Tử Sản vị Thân Đồ Gia viết: “Ngã tiên xuất, tắc tử chỉ, tử tiên xuất, tắc ngã chỉ. Kim ngã tương xuất, tử khả dĩ chỉ hồ? Kỳ vị da? Thả tử kiến chấp chính nhi bất vi, tử tề chấp chánh hồ?”
Thân Đồ Gia viết: “Tiên sinh chi môn cố hữu chấp chính yên như thử tai? Tử nhi duyệttử chi chấp chính nhi hậu nhơn giả dã!”
Văn chi viết: Giám minh tắc trần cấu bất chỉ, chỉ tắc bất minh dã. Cửu dữ hiền nhân xử tắc vô quá. Tử kim chi sở thủ đại giả, tiên sinh dã, nhi do xuất ngôn nhược thị bất diệc quá hồ?”
Tử Sản viết: “Tử ký nhược thị hĩ, do dữ Nghiêu tranh thiện, kế tử chi đức, bất túc dĩ tự phản da?”
Thân Đồ Gia viết: “Tự trạng kỳ quá dĩ bất đương vong giả chúng; bất trạng kỳ quá dĩ bất đương tồn giả quả. Tri bất khả nại hà nhi an chi nhược mạng, duy hữu đức giả năng chi. Du ư Nghệchi cốc trung, trung ương giả, trung địa dã, nhiên nhi bất trúng giả, Mạng dã. Nhơn dĩ kỳ toàn túc tiếu ngô bất toàn túc giả, chúng hĩ. Ngã phất nhiên nhi nộ, nhi thích tiên sinh chi sở,
tắc phế nhiên nhi phản bất tri tiên sinh chi tẩy ngã dĩ thiện da? Ngô dữ phu tử du thập cửu niên hĩ, nhi vị thường tri ngô ngột giả dã. Kim tử ngã du ư hình hài chi nội, nhi tử sách ngã ư hình hài chi ngoại, bất diệc quá hồ?”
Tử Sản thác nhiên cải dung canh mạo, viết: “Tử vô nãi xưng”.
CHÚ

1. Tử Sản đang là tướng quốc nước Trịnh.

2. Chữ 說 cùng với chữ 悅 đồng nhau. Trong Kinh Truyện thường viết là 說 thay vì 悅 (Từ Nguyên).
3. 羿, tên của một người xưa có biệt tài bắn cung không ai bì kịp.

DỊCH NGHĨA
B. Thân Đồ Gia là người cụt chơn, cùng với Tử Sản nước Trịnh đồng học với Bá Hôn Vô Nhân. Tử Sản bảo với Thân Đồ Gia: “Ta ra trước thì ngươi ở lại. Ngươi ra trước thì ta ở lại”.
Ngày hôm sau, lại cùng một chỗ học, cùng ngồi một chiếu. Tử Sản bảo với Thân Đồ Gia: “Ta ra trước thì ngươi ở lại. Ngươi ra trước thì ta ở lại. Nay ta sắp đi ra, vậy ngươi có thể ở lại chăng, hay là chưa có thể được? Vả ngươi thấy kẻ cầm chính quyền sao không biết tránh qua một bên? Ngươi ngang hàng với kẻ cầm chính quyền ư?”
Thân Đồ Gia nói: “Ở cửa Thầy đây sao lại có kẻ gọi là cầm chính quyền? Ngươi thích thú với cái việc cầm chính quyền của ngươi mà xem mọi người đều đứng sau ngươi cả! Ta nghe Thầy nói rằng: Gương sáng là vì bụi bặm không vướng, bụi bặm mà vướng lên thì mặt gương sẽ lu mờ! Ở lâu với bậc hiền giả thì ắt không lỗi lầm. Nay ngươi ở trong cửa Thầy để cầu học cái đại thức, thế sao lại còn thốt ra được những lời như vậy, há chẳng cũng lầm lỗi hay sao?
Tử Sản nói: Ngươi đã là người (tàn tật) như thế, lại còn mong cùng với Nghiêu mà tranh thiện hay sao? Kể về đức của ngươi, không đủ để mà xét lại mình ư?”
Thân Đồ Gia nói: “Tự che đậy lỗi của mình, cho là không đáng bị hình chặt chơn, thì nhiều! Không che đậy lỗi của mình, cho là không đáng còn chơn, thì ít. Biết là không thể làm thế nào khác được mà yên lòng chịu nó và cho là số mạng, thì chỉ có người có Đức mới có thể làm nổi. Ở ngay trung tâm lằn tên của Nghệ mà lại thoát khỏi bị tên, đó là Mạng vậy. Những
kẻ cậy mình có đủ hai chơn để chế nhạo người không đủ hai chơn như ta, thì nhiều lắm! Ta nghĩ cũng tức giận, nhưng khi đến học với Thầy thì lại bâng khuâng mà trở về, không rõ Thầy đã đem cái hay gì mà rửa ráy được lòng ta? Ta ở cùng Thầy đã mười chín năm thế mà Thầy chưa thường thấy ta là đứa cụt chơn! Nay ngươi chơi với ta ở chỗ bên trong của hình hài, mà ngươi lại còn khắt khe với cái hình hài bên ngoài của ta, chẳng cũng lầm lỗi hay sao?”
Tử Sản áy náy, đổi sắc mặt mà nói: “Thôi, đừng nói đến chuyện ấy nữa!”
⸈⸈⸈

C. Lỗ hữu ngột giả Thúc Sơn Vô Chỉ, chủng kiến Trọng Ni. Trọng Ni viết:
“Tử bất cẩn, tiền ký phạm hoạn nhược thị hĩ, tuy kim lai hà cập hĩ!”
Vô Chỉ viết: “Ngô duy bất tri vụ nhi khinh dụng ngô thân, ngô thị dĩ vong túc. Kim ngô lai dã, do hữu tôn túc giả tồn. Ngô thị dĩ vụ toàn chi dã. Phù thiên vô bất phú, địa vô bất tái, ngô dĩ phu tử vi thiên địa; an tri phu tử chi do nhược thị dã!”
Khổng Tử viết: “Khưu tắc lậu hĩ! Phu tử hồ bất nhập hồ? Thỉnh giảng dĩ sở văn.”
Vô Chỉ xuất. Khổng Tử viết:“Đệ tử miễn chi! Phù Vô Chỉ ngột giả dã, do vụ học dĩ phục bổ tiền hành chi ác, nhi huống toàn đức chi nhơn hồ?”
Vô Chỉ ngữ Lão Đam viết: “Khổng Khưu chi ư chí nhơn, kỳ vị da? Bỉ hà tân tân dĩ học tử vi! Bỉ thả kỳ dĩ xúc quỷ[44] huyễn quái chi danh văn, bất tri chí nhơn chi dĩ thị vi kỷ chất cốc da?”
Lão Đam viết:“Hồ bất trực sử bỉ dĩ tử sinh vi nhất điều, dĩ khả bất khả vi nhất quán giả, giải kỳ chất cốc, kỳ khả hồ?
Vô Chỉ viết:“Thiên hình chi, an khả giải.”
DỊCH NGHĨA
C. Nước Lỗ, có người cụt chơn, tên là Thúc Sơn Vô Chỉ, khập khễnh đến ra mắt Trọng Ni. Trọng Ni nói:
Ngươi trước đây không cẩn thận nên phải bị tai họa như thế, nay dù có đến đây cũng không sao kịp nữa!
Vô Chỉ nói: “Tôi vì không biết việc nên khinh dụng tấm thân nầy mà phải bị mất hết một chơn. Nay tôi đến đây, còn lại có một chơn quý nầy, thời tôi mong giữ cho nó vẹn toàn. Trời, không gì là không che; Đất không gì là không chở, tôi mong xem phu tử như Trời Đất. Nào ngờ Phu tử lại xử với tôi như thế!”
Khổng Tử nói: “Khưu nầy quả hẹp hòi! Sao ông không vào trong chơi, tôi xin đem những gì đã nghe được mà giảng cho ông nghe!”
Vô Chỉ ra đi. Khổng Tử nói:
Các đệ tử hãy cố gắng lên! Kìa như Vô Chỉ là kẻ cụt chơn mà còn biết mong học để bù lại cái việc làm sai lầm buổi trước, huống chi kẻ mà đức vẫn còn vẹn toàn!
Vô Chỉ nói chuyện với Lão Đam:
Khổng Khưu hình như chưa phải là bậc chí nhơn! Ông ta dạy làm gì mà đông học trò thế? Ông lại còn mong được tăm tiếng về những cái học kỳ dị huyễn hoặc, vậy chứ ông không biết rằng đối với bậc chí nhơn, đó toàn là những gông cùm cho mình ư?
Lão Đam nói:
Sao ông không bảo thẳng cho ông ta biết rằng sống và chết đều là cùng một lẽ, nên và chẳng nên đều cùng là một việc, hầu mở gông cùm cho ông ta có được không?

Vô Chỉ nói:

Trời đã hành tội ông ta, gỡ ra sao được!

⸈⸈⸈
D. Lỗ Ai Công vấn ư Trọng Ni viết: “Vệ hữu ác nhơn yên, viết Ai Đài Đà, trượng phu dữ chi xử giả, tư nhi bất năng khứ dã, phụ nhơn kiến chi, thỉnh ư phụ mẫu, viết: “Dữ nhơn vi thê, ninh vi phu tử thiếp giả, sổ thập nhi vị chỉ dã. Vị thường hữu văn kỳ xướng giả dã, thường họa nhơn nhi dĩ hĩ. Vô quân tử chi vị, dĩ tế hồ nhơn chi tử, vô tụ lộc dĩ vọng nhơn chi phúc, hựu dĩ ác hãi thiên hạ, họa nhi bất xướng, tri bất xuất hồ, tứ vực, thả nhi thư hùng
hợp hồ tiền, thị tất hữu dị hồ nhơn giả dã. Quả nhân triệu nhi quan chi, quả dĩ ác hãi thiên hạ, dữ Quả nhân xử, bất chí dĩ ngoạt số, nhi Quả nhân hữu ý hồ kỳ vi nhơn dã; bất chí hồ cơ niên, nhi Quả nhân tín chi. Quốc vô tể, nhi Quả nhân truyền quốc yên. Muộn nhiên nhi hậu ứng. Tỵ nhược nhi từ, Quả nhân xú hồ tốt thụ chi quốc, vô kỷ hà dã, khứ Quả nhân nhi hành. Quả nhân tuất yên, nhược hữu vong dã, nhược vô dữ lạc thị quốc dã. Thị hà nhơn giả dã?”
Trọng Ni viết:“Khưu dã thường sứ ư Sở hĩ, thích kiến đồn tử thực ư kỳ tử mẫu giả; thiểu yên tuần nhược giai khí chi nhi tẩu; bất kiến kỷ yên nhĩ, bất đắc loại yên nhĩ! Sở ái kỳ mẫu giả, phi ái kỳ hình dã, ái sử kỳ hình giả dã. Chiến nhi tử giả, kỳ nhơn chi táng dã, bất dĩ sáp tư, tắc giả chi lũ, vô vi ái chi, giai vô kỳ bản hĩ. Kim Ai Đài Đà vị ngôn nhi tín, vô công nhi thân, sử nhơn thụ kỷ quốc, duy khủng kỳ bất thụ dã, thị tất tài toàn nhi đức bất hình giả dã.
Ai Công viết: “Hà vị tài toàn?”
Trọng Ni viết: “Tử sinh, tồn vong, cùng đạt, bần phú, hiền dữ bất tiếu, hủy dự, cơ khát hàn thử: thị sự chi biến, mạng chi hành dã. Nhật dạ tương đại hồ tiền, nhi tri bất năng quy hồ kỳ thủy giả dã; cố bất túc dĩ hoạt hòa, bất khả nhập ư linh phủsử chi hòa dự, thông nhi bất thất ư duyệt; sử nhật dạ vô khước nhi dữ vật vi xuân thị tiếp nhi sinh thời ư tâm giả dã, thị chi vị tài toàn.”
“Hà vị đức bất hình?”
Viết: “Bình giả thủy đình chi thịnh dã kỳ khả dĩ vi pháp dã, nội bảo chi nhi ngoại bất đãng dã. Đức giả thành hòa chi tu dã, đức bất hình giả, vật bất năng ly dã.”
Ai Công dị nhật dĩ cáo Mẫn Tử viết:
“Thủy dã ngô dĩ nam diện nhi quân thiên hạ, chấp dân chi kỷ, nhi ưu kỳ tử, ngô tự dĩ vi chí thông hĩ. Kim ngô văn chí nhơn chi ngôn khủng ngô vô kỳ thực, khinh dụng ngô thân, nhi vong ngô quốc. Ngô dữ Khổng Khưu, phi quân thần dã, đức hữu nhi dĩ hĩ.”
CHÚ
1. Linh phủ靈府: chỗ ở của tinh thần(精神之所宅也), ám chỉ cái tâm của mình. Ý nói những vấn đề thuộc về việc sống chết, cùng thông, hiền ngu, phải quấy v. v...chỉ là những sự bất thường, không nên để cho nó làm điên đảo sự yên tĩnh của tâm hồn(吾之太和).
2. Linh phủ, đồng một nghĩa với linh đài 靈 臺 mà Trang Tử thường dùng ở Canh Tang Sở庚桑楚trong câu“不可内於靈臺”. Ở đây Quách Tượng giải chữ linh đài là ám chỉ cái tâm(靈 臺 者 心 也).
DỊCH NGHĨA
D. Lỗ Ai Công hỏi Trọng Ni:
Nước Vệ có một người xấu xí, tên là Ai Đài Đà. Đàn ông nào ở với nó, nhớ không thể bỏ đặng. Đàn bà nào thấy nó, về xin cha mẹ rằng: thà làm vợ bé của nó hơn làm vợ lớn kẻ khác. Số người ấy có đến mười mấy rồi, thế mà cũng chưa hết. Chưa thường nghe nó xướng lên ý gì, chỉ có họa theo ý người mà thôi. Không có địa vị quyền thế gì để cứu người khỏi chết; không có tiền bạc của cải gì để nuôi ai no bụng, lại còn hình thù xấu xí dễ làm thiên hạ phải sợ. Chỉ có họa mà không có xướng. Trí nó không ra ngoài bốn vách rào làng. Thế mà giống đực giống cái lại xúm xít trước mặt, ấy là kẻ tất phải có cái gì khác lạ hơn người. Quả nhân triệu nó đến xem, thì quả là hình thù xấu xí làm cho thiên hạ đều phải sợ. Ở với quả nhân không đầy một tháng, mà quả nhân đã để ý đến cách ăn ở của nó. Không đầy một năm, quả nhân tin nó. Nước không có kẻ cầm quyền chính, quả nhân giao việc nước cho nó. Nó buồn buồn, thờ ơ ra vẻ chối từ làm cho quả nhân hổ thẹn. Sau cùng nó nhận, nhưng rồi, không bao lâu lại bỏ quả nhân mà đi. Quả nhân buồn bực như mất một vật gì, như không còn có người để cùng vui trong nước nữa! Vậy người ấy là người thế nào?
Trọng Ni nói: “Khưu nầy, từng sang sứ bên nước Sở. Thấy đàn heo con đang bú mẹ, mà mẹ chúng đã chết rồi.
Một lúc, chúng ngơ ngác chạy tứ tán cả vì chúng thấy mẹ không nhìn đến chúng nữa. Chúng sở dĩ yêu mẹ, không phải là yêu cái xác kia, mà yêu cái sai khiến xác kia của mẹ chúng! Ra trận mà chết, đâu cần phải yên ngựa để bọc thây. Cho kẻ cụt chơn giày dép, họ đâu có ưa thích! Họ đều không có gốc! (...) Nay Ai Đài Đà chưa nói gì mà người lại tin; không công gì mà người lại thân, khiến có người muốn trao cho quốc chính mà lại còn sợ không chịu nhận, như vậy ắt phải là kẻ toàn được cái Tài, và không để lộ ra cái Đức.”
Ai Công nói: “Sao gọi là toàn được cái Tài?”
Trọng Ninói: “Sống chết, còn mất, cùng đạt, giàu nghèo, hiền và bất tiếu, khen chê, nóng lạnh...là những cái biến của sự vật, cái chuyển của mạng (cũng như) ngày đêm thay phiên tiếp nối nhau trước mặt ta mà trí thông
minh của con người cũng không sao nhận thấy được chỗ khởi đầu. Như vậy, đâu có đáng gì để cho nó lọt vào “linh phủ”, làm loạn lòng mình. Ngay cả sự hân hoan vui mừng cũng đừng để cho lòng mình dấy động. Đối với tất cả mọi việc, hòa nhã vui tươi như tiếp đón bốn mùa...Đó gọi là “toàn được cái Tài”.
Thế nào là Đức không lộ ra?
Là bình thản như mặt nước đứng im lìm, có thể lấy đó làm khuôn phép:
bên trong giữ được thật trong sáng mà bên ngoài như bất động không bị lôi
cuốn theo ngoại vật. Đức là thành được việc mình mà vẫn giữ được sự hòa
[45]

Ai Công ngày khác nói chuyện với Mẫn Tử:
Trước kia tôi cho việc day mặt về phía Nam làm vua thiên hạ, cầm quyền trị dân, lo cho chúng được an ninh, tôi tự cho được như thế là thông đạt lắm rồi. Nhưng từ khi nghe bậc chí nhơn[46] nói, tôi sợ không có thực tài, khinh dụng thân mình mà làm mất cả nước. Từ đây, tôi và Khổng Khưu sẽ không còn phải là đạo vua tôi nữa, mà là bạn với nhau về đạo đức mà thôi vậy.
⸈⸈⸈
E. Nhân kỳ Chi Ly Vô Thầnthuyết Vệ Linh Công. Linh Công duyệt chi nhi thị toàn nhơn, kỳ đậu kiên kiên.
Úng Ánh Đại Anhthuyết Tề Hoàn Công. Hoàn Công duyệt chi, nhi thị toàn nhơn, kỳ đậu kiên kiên.
Cố đức hữu sở trường nhi hình hữu sở vong; nhơn bất vong kỳ sở vong,

34

nhi vong kỳ sở bất vong thử vị thành vong . Cố thánh nhơn hữu sở du nhi


56

trí vi nghiệt , ước vi giao đức vi án, công vi thương. Thánh nhơn bất mưu,

ố dụng trí? Bất trác ố dụng giao? Vô táng, ố dụng đức? Bất hóa, ố dụng thương? Tứ giả, Thiên Dụcdã, Thiên Dục dã giả, thiên thực dã. Ký thụ
thực ư thiên, hựu ố dụng nhơn? Hữu nhơn chi hình, vô nhơn chi tình. Hữu nhơn chi hình, cố quần ư nhơn; vô nhơn chi tình, cố thị phi bất đắc ư thân. Diểu hồ tiểu tai, sở dĩ thuộc ư nhơn dã, ngao hồ đại tai, độc thành kỳ thiên.
CHÚ

1. Chi Ly Vô Thần, là người có hình thể chia lìa như què chân và sứt môi (xấu xí, kỳ dị).

2. Úng Ánh Đại Anh, tức là người cổ bướu dị hình. Nhân đấy mà gọi tên.


Thích cái đẹp bên trong, đến quên cả sự xấu xí của hình hài bên ngoài: đó là cái thích đến tột độ.

Trong Tình sử Trung Hoa có chép câu chuyện một chàng trai si tình một người đàn bà một mắt, bấy giờ trong thiên hạ anh ta nhìn lại tất cả mọi người đàn bà khác trong nước đều có thừa một mắt cả.


Hình thì nên quên; mà Đức, thì không nên quên(形宜忘德不宜 忘).

3. Du : là rong chơi trong cõi hư không. Chữ du , nghĩa đen là rong chơi, mà nghĩa bóng, là tiêu diêu tự đắc, để cho cái tâm ung dung linh hoạt trong cõi hư vô(遊 心 於 虛), tức là đã đến cõi “toàn đức” rồi vậy.


4. Hoặcviếtlà“yêunghiệt”妖孽.Nghiệt,tứclàyêunghiệt,làtộiác. Tư Mã 司馬 bàn rằng: “Trí tuệ sinh yêu nghiệt”(智慧生妖孽).

5. Đức 德 ở đây, là ám chỉ lễ nghĩa. So sánh với câu “Đại Đạo phế, hữu nhân nghĩa.” (Lão tử Đạo Đức Kinh).

6. Chữ 鬻 đây phải âm là dục 育 (chứ không đọc là chúc) tức là nuôi dưỡng(養 也).
DỊCH NGHĨA
E. Chi Ly Vô Thần vào thuyết Vệ Linh Công. Linh Công ưa thích đến nỗi nhìn lại những kẻ thân hình toàn vẹn đều có cái cổ bé nhỏ khẳng khiu!
Úng Ánh Đại Anh vào thuyết Tề Hoàn Công. Hoàn Công ưa thích đến đỗi nhìn lại những kẻ thân hình toàn vẹn đều có cái cổ bé nhỏ khẳng khiu!
Cho nên Đức mà hơn người có thể làm cho quên hẳn được hình hài. Người ta (trái lại) không biết quên cái nên quên (hình hài) mà lại hay quên cái không nên quên (Đức), đó mới là thật quên. Bởi vậy, Thánh nhơn có chỗ để mà tự tại; hiểu rằng Trí là mầm của tội ác thệ ước là keo sơn, Đức là nối tiếp, công là buôn bán. Thánh nhơn không mưu tính, thì dùng chi đến Trí? Không đẽo gọt thì dùng chi đến keo? Không mất Tánh thì dùng chi đến Đức? Không bán chác thì dùng chi đến buôn? Bốn cái đó là “Trời nuôi”. Trời nuôi, tức là trời cho hấp thụ (cái món ăn của Trời). Đã được Trời nuôi, cần gì dùng đến nhân tạo nữa! Thánh nhơn có cái hình của người mà không có cái tình của người. Có cái hình của người nên mới cùng một đàn với người. Không có tình của người, nên thị phi mới không động được lòng. Cùng một đàn với người là việc nhỏ, mà riêng cùng làm một với Trời là việc lớn vậy!
⸈⸈⸈

G. Huệ Tử vị Trang Tử viết: “Nhơn cố vô tình hồ?” Trang Tử viết: “Nhiên!”
Huệ Tử viết: “Nhơn nhi vô tình, hà dĩ vị chi nhơn?”
Trang Tử viết: “Đạo dữ chi mạo, thiên dữ chi hình, ô đắc bất vị chi nhơn?”

Huệ Tử viết: “Ký vị chi nhơn ô đắc vô tình?”

Trang Tử viết: “Thị phi ngô sở vị tình dã, ngô sở vị vô tình giả, ngôn

nhơn chi bất dĩ hảo ác nội thương kỳ thân, thường nhân tự nhiên nhi bất ích sinh dã.”

1

Huệ Tử viết: “Bất ích sinh , hà dĩ hữu kỳ thân?”

Trang Tử viết: Đạo dữ chi mạo thiên dữ chi hình, vô dĩ hảo ác nội thương kỳ thân. Kim tử ngoại hồ tử chi thần, lao hồ tử chi tinh, ỷ thụ nhi ngâm, cứ cảo ngô nhi minh, thiên tuyển tử chi hình, tử dĩ kiên bạchminh.”
CHÚ

1. Sinh , ở đây cùng nghĩa với chữ tính .

2. Kiênbạch堅白:làthuyếtbiệnluậncủaCôngTônLong公孫龍, tức là thuyết “bạch mã kiên thạch” 白 馬 堅 石. Trang Tử chê Huệ Thi không biết thiện dưỡng Thiên Chân, suốt đời biện luận để tiêu hao sinh lực trong những cái học tranh biện vô ích cho con đường giải thoát.

DỊCH NGHĨA

G. Huệ Tử gọi Trang Tử, bảo:

Người ta không có tình hay sao? Trang Tử nói:
Phải!
Huệ Tử nói:
Người mà không có tình, thì lấy gì gọi là người được? Trang Tử nói:
Đạo ban cho nó dung mạo, Trời ban cho nó hình hài, sao không gọi


được là người?

Huệ Tử nói:
Đã gọi là người, mà không có tình, được không? Trang Tử nói:
Đó không phải là cái mà tôi gọi là tình đâu? Chỗ mà tôi gọi là không

tình, chính là chỗ tôi muốn nói rằng con người, bên trong, đừng để cho cái tình cảm yêu ghét làm hại đến thân, thường nên theo lẽ tự nhiên mà đừng thêm gì cho thiên tính.
Huệ Tử nói:
Không thêm cho thiên tính, sao có được thân? Trang Tử nói:
Đạo cho nó dung mạo; Trời cho nó hình hài bên trong, không để cho sự ưa ghét làm hại thân. Nay ông vụ cái bên ngoài của thần minh của ông, để hao tổn tinh lực của ông, ngồi dựa cội mà ngâm vang, bám vào gốc ngô cằn, nhắm mắt làm thinh! Trời đã chọn cho ông một cái hình hài nầy, đem chi thuyết “kiên bạch” mà nhọc thân.
⸈⸈⸈
TỔNG BÌNH
Thiên Đức Sung Phù là để mà giải cái nghĩa của thuyết “bất ngôn chi giáo”不言之教của Lão Tử.
Thuyết nầy gốc ở chương thứ II sách Đạo Đức Kinh:“Thị dĩ Thánh nhơn, xử vô vi chi sự, hành bất ngôn chi giáo”是以聖人,處無爲之事,行 不 言 之 教 (Thánh nhân dùng “vô vi” mà xử sự, dùng “bất ngôn” mà dạy dỗ. )
Sở dĩ Trang Tử, cũng như Lão Tử, chủ trương thuyết “bất ngôn” là căn cứ vào ba điểm nầy:
Đạo mà nói ra được, không còn phải là Đạo thường nữa. Nghĩa là Đạo là một lẽ siêu hình, không thể dùng lời nói mà truyền dạy được. Đức mà đầy đủ nơi trong thì người hóa nơi ngoài, tự nhiên cảm hóa được chung quanh, không đợi dùng đến lời mới dạy dỗ được. Nhân theo tự nhiên mà không cần phải nói mới là dạy.
⸈⸈⸈
1. Bậc Thánh nhơn không dùng lời nói mà dạy người, là vì bàn về lẽ Đạo, tức là “cái điều chỉ có thể cảm mà không thể nói” không sao có thể được, nhất là phải dùng đến lời nói của giới tương đối nhị nguyên.
Cho nên Lão Tử mới nói: “Tri giả bất ngôn, ngôn giả bất tri”(知 者 不 言,言 者 不 知) (Biết, thì không nói; nói, là không biết), là vì “Đạo khả đạo, phi thường Đạo”. Kẻ nào tự cho là đã hiểu Đạo và đem cái Đạo ấy mà dạy ta, là kẻ dối ta, nếu không phải họ tự dối với lòng.
Thiên Trí Bắc Du giải đoạn nầy có nói: “Trí, đi phương Bắc, tới Huyền Thủy, lên núi Ẩn Phần, gặp Vô Vi Vị.
Trí gọi Vô Vi Vị bảo: “Tôi muốn hỏi ông vài lời. Lo làm sao, liệu làm sao mà biết được Đạo? Xử cách nào, làm cách nào mà hiểu Đạo? Theo ngả nào, đi đường nào mà đặng Đạo?”
Hỏi ba lời, Vô Vi Vị không đáp lại lời nào.
Hỏi không đặng, Trí đi xuống Bạch Thủy, ở phương Nam, lên núi Hồ Quyết, thấy Cuồng Khuất. Trí đem ba câu hỏi trước, hỏi Cuồng Khuất.
Cuồng Khuất nói: “À! Tôi biết, để tôi nói”. Nhưng vừa muốn nói, thì lại quên chỗ mình muốn nói.
Trí không hỏi đặng, trở lại đế cung hỏi Hoàng đế. Hoàng đế nói: “Không lo, không liệu, mới biết Đạo. Không xử, không làm, mới biết Đạo. Không theo, không đi, mới được Đạo.”
Trí hỏi Hoàng đế: “Ông cùng tôi biết Đạo, còn như hai người kia (Vô Vi Vị và Cuồng Khuất) không biết Đạo. Vậy ai là phải?”
Hoàng đế nói: “Vô Vi Vị là thật phải. Cuồng Khuất thì cùng giống như Vô Vi Vị. Chỉ rốt lại có ngươi cùng ta là không cận Đạo. Vả, kẻ biết thì không nói, kẻ nói là không biết. Nên bậc Thánh nhơn mới thực hành cái thuyết bất ngôn!”
Ấy, Đạo chẳng thể nói ra đặng; nói ra đặng chẳng phải còn là cái Đạo “thường” nữa. Cho nên Trang Tử mới nói:“Kẻ hỏi Đạo cũng như người đáp lại đều là những kẻ không hiểu Đạo!”
⸈⸈⸈
2. Thánh nhơn biết rằng mỗi vật trong đời đều có cái Đức của nó, và phận sự duy nhất của mỗi vật là phải biết gìn giữ cái Đức ấy nơi mình cho đầy đủ, nghĩa là lo sống cái sống ấy một cách triệt để và nuôi dưỡng nó được luôn luôn đầy đủ nơi trong. Đức mà đầy đủ bên trong thì tự nhiên ứng hiện ra ngoài, thiên hạ nhờ đó mà tự hóa, đâu cần phải dùng lời nói mà hóa ai. Nên mới gọi là “đức sung phù”, nghĩa là “đức mà đầy đủ nơi trong, thì người ở ngoài nhờ đó mà tự hóa; tự nhiên cảm hóa, không phải cần dùng đến lời mà dạy”(德充於内,而人化於外,自然感化,不待教 言者也).
⸈⸈⸈
Tại nước Lỗ, có người cụt chơn, tên là Vương Đài. Số người theo học ngang với Trọng Ni.
Thường Quý hỏi Trọng Ni: “Vương Đài là kẻ cụt chơn lại cùng với Thầy chia hai học trò nước Lỗ. Người ấy, đứng thì không dạy điều chi, ngồi thì không nghị luận việc gì. Thế mà người học, đến thì không có gì cả, mà khi ra về, thấy mình đầy đủ. Vậy thì, có lối dạy mà không cần đến lời, mặc nhiên mà cảm hóa được lòng người ư?”
⸈⸈⸈
Nước Vệ có một người xấu xí tên là Ai Đài Đà. Đàn ông nào ở với nó, nhớ mà không thể rời bỏ đặng. Đàn bà nào thấy nó, về xin cha mẹ rằng: thà làm bé nó hơn làm vợ lớn kẻ khác (...) Chưa thường nghe nó xướng lên ý gì, chỉ có họa theo ý người thôi. Thế mà Lỗ Ai Công phong cho nó chức Tướng quốc, nó nhận rồi từ bỏ mà đi, Ai Công buồn bã đến tự thấy không làm sao an ủi được khi mất nó.
⸈⸈⸈
Chi Ly Vô Thần, cũng như Úng Ánh Đại Anh, người thì què chơn, sứt môi, người thì cổ bướu dị hình...thế mà khiến cho Vệ Linh Công và Tề Hoàn Công ưa thích đến nỗi nhìn thấy kẻ thân hình toàn vẹn đều xấu xí cả.
Cho nên “đức mà hơn người có thể làm cho ta quên hẳn cả hình hài xấu xí”.
Trên đây, một Vương Đài tàn tật, không nói gì cả mà thiên hạ tự hóa; một Ai Đài Đà hình thù xấu xa, không nói gì cả mà thiên hạ đều quên cái xấu xí của hình thù, đủ thấy rằng Đức mà đủ nơi trong thì người sẽ hạp với mọi người, đâu đợi cần phải nhiều lời mới cảm hóa.
⸈⸈⸈
Điểm thứ ba của thuyết “bất ngôn chi giáo” là căn cứ vào lý tự nhiên. Thiên Biền Mẫu giải rất rõ về điều nầy: “Thiên hạ có vật thường tự nhiên như vậy! Có vật tự nhiên cong, đâu cần phải dùng đến câu móc! Có vật tự nhiên ngay, đâu cần phải dùng đến dây mực! Có vật tự nhiên tròn, đâu cần phải dùng đến cái khuynh! Có vật tự nhiên vuông, đâu cần phải dùng đến thước nách! Vạn vật tự nhiên chằng chịt dính líu nhau, đâu cần phải dùng
đến keo sơn. Vạn vật sống, đâu cần gì phải biết vì cớ gì mà sống; đặng, cũng không cần biết vì làm sao mà đặng. Nguyên lý của cái sống và cái đặng kia là việc cố hữu, xưa nay không hai. Nó là cái luật bất di bất dịch. Vậy thì, vì cớ gì lại đòi đem những thứ nhân, nghĩa, lễ, nhạc những sợi dây nhơn tạo để mà trói buộc thiên hạ, khiến cho thiên hạ lầm lạc!”
Đó gọi là lẽ thường nhiên, tức là lẽ tự nhiên. Tự nhiên là cái lẽ phải như
[47]
vậy, vì nó phải như vậy, không vậy không đặng . Đã nhận theo lẽ tự nhiên, thì hãy để cho vạn vật tự nhiên sống theo cái sống của nó, cần gì phải dùng đến lời nói mà làm chi?

Đăng nhận xét

0 Nhận xét