Pháp bảo đàn kinh

Pháp bảo đàn kinh

Pháp Bảo Đàn Kinh là một quyển Kinh chuyên hoằng Pháp Đốn Giáo của Thiền Tông, do Lục Tổ Huệ Năng giảng và Ngài Pháp Hải ghi lại, nay đã dịch sang nhiều thứ tiếng và đã phổ biến trên thế giới.

Lục Tổ là người không biết chữ nhưng nói ra lời nào cũng đúng ý Phật. Tổ nói: Diệu lý của chư Phật chẳng dính dáng với văn tự. Như vậy người đọc nên được ý quên lời, chớ nên chấp lời nghịch ý. Như Lục Tổ nói: Nay ta gượng nói ra, khiến ông bỏ tà kiến, chớ hiểu theo lời nói, mới cho biết ít phần.

Chớ hiểu theo lời nói là chớ chấp lời mà nghịch ý; mới cho biết ít phần là được ý mà quên lời, nói được ý là phải đốn ngộ ý của Tổ, cũng là ý của Phật vậy. Phật nói: Sự suy lường phân biệt chẳng thể hiểu được pháp này. Hễ nói đã chứng thì chẳng thể tỏ rõ cho người biết, nếu nói chẳng chứng thì thuyết lý chẳng thể liễu triệt, nên pháp đốn giáo này chẳng phải muốn người hiểu theo lời, cần phải tự tin, tự tu, tự chứng, tự ngộ mới được. Nếu chỉ dùng miệng luận bàn, dùng tâm suy lường là trái với ý Tổ. Phật có nói: Như Lai dùng tất cả thí dụ để diễn đạt mọi việc thì được; nhưng chẳng thí dụ nào có thể diễn đạtpháp này. Tại sao vậy? Vì tự tánh bất khả tư nghì, tâm trí chẳng đến được. Vậy phải tin rằng: miệng luận bàn, tâm suy lường là việc chướng đạo vậy.

Đối với pháp thế gian thì dùng miệng luận bàn, dùng tâm suy lường có thể thấu hiểu được; với pháp xuất thế gian dùng miệng luận bàn, dùng tâm suy lường lại càng xa với Đạo. Cổ Đức nói: Đối với việc này, có tâm chẳng thể cầu, vô tâm chẳng thể đắc, ngôn ngữ chẳng thể thông đạt, im lặng chẳng thể thấu suốt. Quyển Kinh này, mỗi phẩm đều có tỏ bày ý chỉ như thế, xin độc giả tự xét kỹ xem! Nói tóm lại, PHÁP ĐỐN GIÁO này là khai thị cho người học Đạo để y theo CHÁNH PHÁP tu hành cho đến đốn ngộmà thôi.

Thích Duy Lực

Download file PDF của thiền sư Thích Mãn Giác tại đây


Ba đời sống (Three lives)

Ba đời sống (Three lives)

 

Ba đời sống - (Three Lives – Lần đầu xuất bản năm 1977), cuốn sách kể về những kiếp sống của ba người rất khác nhau và những gì họ cảm nhận được khi chết tuỳ theo niềm tin nơi họ. Chúng ta sẽ được dẫn theo từng con đường và thấy cuộc hành trình đưa họ đến đâu, cách tất cả chấm dứt tại cùng một nơi. Trước hết là một người vô thần, thứ hai là một Người Do Thái cải sang những giáo phái khác, cuối cùng một tu sĩ Thiên chúa giáo.


Thắp lên một ngọn nến tốt hơn là nguyền rủa đêm đen!

Lời mở đầu


Quyển sách này KHÔNG được giới thiệu đến bạn như một tiểu thuyết viễn tưởng bởi một lý do rất đặc biệt; nó KHÔNG phải là viễn tưởng.

Đương nhiên, chúng ta có thể dễ dàng đồng ý với nhau rằng một số ngôn từ trong sách về cuộc sống trên thế giới này nghe rất “mỹ từ”, nhưng hãy chấp nhận tuyên bố của tôi rằng MỌI THỨ về cuộc sống ở “Thế giới bên kia” là hoàn toàn có thật.

Một số người được sinh ra với tài năng âm nhạc thiên bẩm; một số người lại có tài năng nghệ thuật vĩ đại, họ vẽ và làm cả thế giới say đắm. Một số người khác lại có thể được ban tặng những năng khiếu vượt trội nhờ sự chăm chỉ làm việc và tận tụy trong học tập của họ.

Tôi có rất ít trải nghiệm vật chất trong thế giới này, không xe hơi, không TV, không có cái này và không có cái kia, và suốt 24 giờ một ngày, tôi gắn chặt với chiếc giường, bởi một lẽ, tôi bị liệt hai chân. Điều này đã cho tôi cơ hội lớn để có thể phát triển tài năng và khả năng trời phú từ khi mới sinh ra.

Tôi có thể làm được mọi điều mà tôi đã viết trong những trang sách này, trừ việc đi lại! Tôi có khả năng du hành thể vía và do sự nghiên cứu của tôi, tôi cho rằng, nhờ vào cái tật đặc biệt của mình mà tôi có thể du hành thể vía đến các Cõi Giới khác. Những nhân vật trong quyển sách này là những người đã sống và chết đi trên thế giới này, và nhờ vào cơ duyên đặc biệt mà tôi có thể theo gót họ trong những “Chuyến du hành đến Vô Định”.

Mọi điều trong quyển sách này về Hậu Kiếp đều cực kỳ chân thực, do đó tôi sẽ không gọi đây là một cuốn tiểu thuyết Viễn Tưởng. 

Lobsang Rampa


Trí tuệ người xưa

Trí tuệ người xưa


 Trí tuệ người xưa (Wisdom Of The Ancients) – (xuất bản lần đầu năm 1965) là cuốn thứ hai trong hai cuốn sách tự học về triết học siêu hình. Trong cuốn sách này, Lobsang giải thích ý nghĩa của nhiều từ ngữ huyền học theo một cách dễ hiểu cho người Phương Tây. Bao gồm nhiều bài tập hít thở, tập với đá, ăn kiêng và lý do tại sao bạn không nên thực hành.

MỤC ĐÍCH CỦA CUỐN SÁCH

Nhiều người thích những từ đao to búa lớn. Họ làm rối tung mọi thứ khi dùng những từ Đao To Búa Lớn đó.
Tôi thì thích những từ đơn giản. Dùng ngôn từ đơn giản để diễn đạt ý mình dễ hơn rất nhiều. Trên hết, nếu chúng ta đang đọc một cuốn sách bằng tiếng Anh hoặc tiếng Tây Ban Nha, thì chúng ta thường không cần đến những từ tiếng Phạn, tiếng Hindu hay tiếng Trung Quốc. Thế nhưng, một số người lại cứ thích những từ to tát, phức tạp vậy.
Cuốn sách này là sự nỗ lực, cố gắng chân thành của tôi nhằm đưa đến cho các bạn một cuốn Từ điển về một số thuật ngữ nhất định và đi sâu vào một số ý nghĩa của chúng. Trong một số trường hợp, ý nghĩa của một từ có thể cần đến cả một chuyên đề.
Chuyên đề? CHUYÊN ĐỀ À? Một chuyên đề là gì? Tôi sẽ giải thích rằng nó là một bài luận ngắn về một chủ đề.
Nhưng hãy để chúng tôi tiếp tục với cuốn Từ điển nhỏ này của chúng ta, vì đó mới là điều mà bạn quan tâm. Tôi nghĩ rằng, trước tiên, tôi nên nói – Chỉ một từ!

To
The Lady Ku’ei
who taught me
many
Siamese Cat
words
and always encouraged me!

      Gửi Quý cô Ku’ei,
      người đã dạy tôi
      ngôn ngữ của Mèo Xiêm
      và đã luôn luôn cổ vũ tôi!


Quốc huy được bao bọc bởi một chuỗi tràng hạt Tây Tạng gồm một trăm lẻ tám hạt tượng trưng cho một trăm lẻ tám cuốn sách của Đại Tạng Kinh Tây Tạng. Bên trong quốc huy mô tả hai con mèo Xiêm đứng trên hai chân sau và cầm một ngọn nến thắp sáng bằng hai chân trước. Ở phần trên bên trái của quốc huy mô tả cung điện Potala và ở phía trên bên phải, bạn có thể thấy một kinh luân Tây Tạng đang quay, như được thể hiện bởi trọng lượng nhỏ được nâng lên trên bánh xe. Ở phía dưới bên trái của quốc huy có những cuốn sách tượng trưng cho tài năng của nhà văn và kiến ​​thức của tác giả, trong khi ở phía bên phải là một quả cầu pha lê tượng trưng cho các khoa học huyền 

Dưới quốc huy là phương châm của T. Lobsang Rampa: "Tôi thắp sáng một ngọn nến." 

Với ý nghĩa : Thà thắp một ngọn nến còn hơn nguyền rủa bóng tối.






Siddhartha

Siddhartha

 

Khi Siddhartha, con trai của một Brahmin, trở nên mất lòng tin vào những lời cầu nguyện và cách sống cứng nhắc của lối sống Ấn Độ giáo, anh bỏ nhà ra đi cùng với Govinda người bạn rất ngưỡng mộ anh ta. Họ tham dự vào nhóm của các samana (Sa môn), là những nhà sư đi lang thang sống trong rừng và cố gắng chinh phục bản thân bằng tự kỷ luật đầu óc và các cách sống khổ hạnh. Sau ba năm sống kham khổ như vậy, hai người bạn trẻ nghe nói về Phật (Cồ Đàm) và từ bỏ lối sống khổ hạnh để đến nghe lời giảng của ông. Govinda tham gia vào tăng đoàn của các nhà sư Phật giáo, nhưng Siddhartha tự tin rằng chỉ có kinh nghiệm bản thân chứ không có lời dạy bên ngoài nào có thể dẫn tới kiến thức thật sự và sự khai sáng. Vào thời điểm này, Siddhartha quyết định "tự đi tìm chính mình" và nhập vào lại thế giới trần tục.

Không lâu sau Siddhartha đến nhà của một kỹ nữ giàu có và xinh đẹp, Kamala (Kiều Lan), người cũng tỏ vẻ quý mến chàng trai trẻ. Cô ta nói rằng để dạy cho chàng nghệ thuật tình yêu, chàng phải đi tìm một công việc làm và quay trở về với các món tặng phẩm. Siddhartha trở thành trợ lý cho một lái buôn, Kamaswami (Vạn Mỹ), và trở thành một thương gia thành công. Ban đầu anh không vướng bận và có vẻ chế nhạo về cách những "người như trẻ con" hay quan trọng hóa mọi vấn đề hàng ngày, nhưng dần dần thì chính anh cũng đắm chìm trong cuộc sống cờ bạc và những mối tham lam. Cuối cùng, phiền não và mệt mỏi với cuộc đời trống rỗng với những trò chơi không đâu vào đâu, anh ta quyết định rời xa thành phố đó mãi mãi.

Bối rối và tuyệt vọng, Siddhartha đến bên một dòng sông và toan nhảy xuống trầm mình tự vẫn. Bỗng nhiên anh nghe dòng sông thì thầm âm thanh "Om," chính là biểu tượng Dharma về sự thống nhất của mọi thứ trong vũ trụ này. Những người thật sự hiểu được ý nghĩa của âm thanh này là những người đã khai sáng. Tất cả những ý nghĩ muốn tự tử đều biến mất.

Sau một giấc ngủ dài hồi phục lại cả về thể xác lẫn tâm linh, Siddhartha gặp lại lần thứ hai người lái đò đã khai sáng, Vasudeva (Vệ Sử), và quyết định ở lại với ông ta. Cả hai làm việc cùng nhau như là những người đưa đò và sống trong bình yên và an phận. Cùng nhau, họ lắng nghe rất nhiều âm thanh của dòng sông, hòa lẫn nhau trong một âm thanh linh thiêng: "Om."

Trong khi đó, Kamala đã hạ sinh con trai của Siddhartha mà ông ta không hề hay biết. Khi bà cùng con trai trong một cuộc hành hương đến viếng Phật đang hấp hối, Kamala bị rắn độc cắn gần bờ sông. Vasudeva tìm thấy bà và đem bà về ngôi nhà nhỏ mà ông đang sống chung với Siddhartha. Trước khi qua đời, bà nói với Siddhartha cậu bé là con trai của ông. Siddhartha chăm sóc cậu bé đã được nuông chiều quá mức và cố gắng dạy cho cậu thưởng thức cuộc sống giản dị. Ông đã không thành công, cậu bé bỏ đi, quay trở lại thành phố. Siddhartha, lo lắng, bỏ đi tìm cậu ta. Vasudeva cảnh giác rằng là người cha Siddhartha phải để mặc cho cậu ta, phải để con trai phải trải qua những đau khổ riêng của cậu—cũng như ngày xưa cha của Siddhartha đã để cho ông bỏ nhà ra đi. Điều này minh họa một trong những chủ đề quan trọng của cuốn sách: kiến thức có thể được dạy, nhưng sự thông thái đến từ kinh nghiệm. Siddharta cũng đã từng nói: "Tự mình chứng nghiệm mọi sự là một điều hay, chàng nghĩ. Khi còn là một đứa trẻ, tôi đã học rằng những lạc thú và của cải thế tục không hay ho gì. Tôi đã biết điều này từ rất lâu, nhưng tôi chỉ mới chứng nghiệm nó vừa rồi. Bây giờ tôi biết những điều ấy không phải chỉ bằng tri thức, mà bằng mắt tôi, bằng tim tôi và bằng bao tử tôi".

Bây giờ Siddhartha đã thật sự được khai sáng. Nhận ra điều này, Vasudeva đi vào rừng và qua đời trong bình an. Người bạn đồng hành thời trai trẻ của Siddhartha, Govinda, đi ngang qua dòng sông, vẫn còn là một nhà sư Phật giáo và vẫn còn đang đi tìm sự khai sáng. Khi ông hỏi những lời dạy nào đã đem lại Siddhartha sự bình an, Siddhartha trả lời rằng đi tìm quá ráng sức có thể cản trở việc tìm ra chân lý, rằng thời gian chỉ là ảo giác, và tất cả mọi thứ đều là một, và tình thương tất cả mọi thứ trên thế gian này là điều quan trọng nhất trên thế giới.

Sau đó Siddhartha yêu cầu người bạn vẫn còn đang hoài nghi hôn lên trán của ông. Sau khi làm theo lời bạn, Govinda không còn thấy bạn mình là Siddhartha nữa, mà ông thấy một biển cả bao la của người, muông thú, cây cỏ, và những vật thể khác của thế giới. Do đó, Govinda khám phá ra vũ trụ này là một thể thống nhất, cũng như Gotama, Vasudeva, và Siddhartha đã khám phá ra điều đó trước ông. Govinda nhận ra sự thật toàn vẹn và sự thông thái của Siddhartha, trong lòng tràn ngập vui sướng, cúi xuống lạy Siddhartha.

Cảm ứng luận

TỰA
Theo Đạo giáo, mỗi khi bàn về vấn đề cảm ứng, người ta thường căn cứ vào cuốn Kinh "Cảm ứng" của đức Thái Thượng Lão Quân (LãoTử). Kinh này có nhiều nhà từ thiện ấn tống khắp cùng xứ ta, tưởng ai ai cũng có xem qua rồi cả.
Ngoài cuốn Kinh Cảm ứng, có cuốn "Đạo Đức Kinh" của đức Thái Thượng, cuốn "Nam Hoa Kinh" của Trang Tử, cuốn "Xung Hư Kinh" của Liệt Tử, cuốn "Phá mê Tông Chỉ" của Nho Đồng lão nhơn, v.v . . . của phái Đạo. Tuy các sách này không phải luận ròng về cảm ứng, nhưng cũng đều có nói sảo qua vấn đề ấy.
Cảm ứng lại là một vấn đề quán thông tam giáo, cho nên cũng có kinh sách phái Thích, phái Nho luận đến; ngoài ra có những sách khác của người phương Tây, như là phái Thông Thiên học (Théosophie), v.v..
Nhờ đọc sách, tôi thấy được chút ít yếng sáng về vấn đề cảm ứng, nên xin đem phần sở đắc của tôi, rút lại làm quyển sách này để cống hiến cho đồng bào tưởng lãm. Nếu may nó giúp ích cho nền Đạo được vài phân, tôi cũng được thỏa nguyện. 

Trước hết, tôi nói về cái nghĩa cảm ứng theo Đạo giáo. Vì tiếng cảm ứng do Đạo giáo mà ra, nên phần nhiều tôi rút lời chánh văn trong Kinh Cảm ứng của đức Thái Thượng để chứng giải cái nghĩa cảm ứng. Kế đó, tôi dẫn sơ những điều lành, những điều dữ có kể trong Kinh Cảm ứng và chỉ cảm ứng trong hai đường lành dữ: Hễ cảm lành thì ứng lành, cảm dữ thì ứng dữ. Rồi sau tôi mới bàn qua cái cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo. Tuy chỗ căn cứ lập luận của ba giáo về mặt cảm ứng có khác nhau, nhưng chung qui cũng đều dẫn người lên con đường giải thoát mà thôi.
Sách này có bốn chương, kể ra sau này: 1.- Nghiên cứu về nghĩa cảm ứng của Đạo giáo; 2.- Chỉ cảm ứng trong hai đường lành dữ; 3.- Luận về cảm ứng theo Thích giáo và Nho giáo; 4.- Kết luận hiệp tam giáo.
Chư quí vị độc giả xem qua cuối sách này, hiểu rõ lý cảm ứng rồi, mỗi người nên để ý đến hành vi của mình, ráng trau tánh, bỏ dữ về lành, bồi nhơn chứa đức. Làm được vậy lâu ngày có lo gì là không tránh khỏi họa tai, hưởng vô cùng phước lộc.

Tại Saigon, năm Giáp Tuất, tháng giêng, ngày rằm
(28 Février 1934)
NGUYỄN MINH THIỆN
Câu chuyện của Rampa

Câu chuyện của Rampa

Câu chuyện của  Rampa - (The Rampa Story - Lần đầu xuất bản năm 1960), hành trình của Bác sĩ Rampa tiếp tục khi ông đi từ Hàn Quốc vào Nga, qua Châu Âu, đi thuyền sang Mỹ, cuối cùng kết thúc ở Anh. Lobsang bị bắt và tiếp tục chịu đựng sự tra tấn cho đến khi một lần nữa, ông trốn thoát bằng cách lái chiếc xe ô tô sang trọng. Trong cuốn sách này, Lobsang cho biết ông đã mượn tạm thân xác của một người đàn ông người Anh tên là Cyril Henry Hoskins, người mong muốn rời khỏi thế giới này, để tiếp tục nhiệm vụ đặc biệt của mình.


Quốc huy được bao bọc bởi một chuỗi tràng hạt Tây Tạng gồm một trăm lẻ tám hạt tượng trưng cho một trăm lẻ tám cuốn sách của Đại Tạng Kinh Tây Tạng. Bên trong quốc huy mô tả hai con mèo Xiêm đứng trên hai chân sau và cầm một ngọn nến thắp sáng bằng hai chân trước. Ở phần trên bên trái của quốc huy mô tả cung điện Potala và ở phía trên bên phải, bạn có thể thấy một kinh luân Tây Tạng đang quay, như được thể hiện bởi trọng lượng nhỏ được nâng lên trên bánh xe. Ở phía dưới bên trái của quốc huy có những cuốn sách tượng trưng cho tài năng của nhà văn và kiến ​​thức của tác giả, trong khi ở phía bên phải là một quả cầu pha lê tượng trưng cho các khoa học huyền 

Dưới quốc huy là phương châm của T. Lobsang Rampa: "Tôi thắp sáng một ngọn nến." 

Với ý nghĩa : Thà thắp một ngọn nến còn hơn nguyền rủa bóng tối.



SỰ THẬT LẠ THƯỜNG

Trong những năm gần đây, một vài cuốn sách đã làm dấy lên nhiều tranh cãi hơn cả là cuốn sách CON MẮT THỨ BA của Lobsang Rampa, và những cuốn sách khác được viết dưới ngòi bút của ông.

Lý do thật đơn giản. Khi một người Anh tuyên bố rằng cơ thể của ông đã được chuyển giao cho linh hồn của một vị Lạt Ma Tây Tạng, ông hiểu rằng sẽ có nhiều chỉ trích. Thêm vào đó, ông kể nhiều trải nghiệm đặc biệt, rất chi tiết về cuộc sống của ông trước đây, hoàn toàn nằm ngoài những quy luật tự nhiên theo cách ta hiểu nên không có gì phải ngạc nhiên khi có những phản ứng sôi nổi.

Mà những phản ứng loại này thường nảy sinh từ sự thiếu hiểu biết. Những điều chưa từng được biết trước đây khi thoạt nhìn luôn gây tâm trạng lo ngại. Thực tế là Bác sĩ Rampa giờ đây có hàng nghìn độc giả trên khắp thế giới, điều đó chính là bằng chứng cho thấy không phải tất cả mọi người đều có tâm trí đóng kín trước những điều mới lạ.

Chính vì lực lượng độc giả hùng hậu này – và cả những độc giả còn hoài nghi cũng đông không kém, hay những độc giả không thể phản bác nhưng cũng chẳng thể giải thích được làm thế nào ông lại có những trí tuệ đó nếu câu chuyện của ông không thật – mà Bác sĩ Rampa đã viết cuốn sách này, cuốn sách thứ ba của ông.

CÂU CHUYỆN CỦA RAMPA là câu trả lời của Lobsang Rampa dành cho tất cả các nhà phê bình của mình, và từng trang sách đều được ông cam kết một cách kiên định về tính chân thực.



Nguồn: congdongthienvietnam.org (Dịch và đăng tải) - Xin được tri ân và cảm tạ.


Muôn Kiếp Nhân Sinh

Muôn Kiếp Nhân Sinh



Muôn kiếp nhân sinh kể câu chuyện có thật, đầy huyền bí của một triệu phú đang sống tại New York, làm chủ một tập đoàn tài chính lớn, gọi là Thomas (tên đã được thay đổi để đảm bảo sự riêng tư).
Từ những cơ duyên kỳ lạ trong cuộc sống, Thomas được kết nối với tiền kiếp của chính mình, nhìn được nhân - quả của mình qua vòng luân hồi của nhiều kiếp nhân sinh.
To lớn hơn là từ câu chuyện của Thomas, tác giả và nhân vật chính đặt một vấn đề lớn rằng những gì mà các nhà khoa học và khảo cổ hiểu biết về các nền văn minh cổ xưa trên thế giới còn quá hạn hẹp. 
Vì ngoài Lưỡng Hà và Ai Cập, có quá nhiều dấu chỉ khác củng cố niềm tin rằng đã có nhiều nền văn minh cổ xưa hơn tồn tại; và đã có nhiều hơn một nền văn minh đồng thời tồn tại cùng nhau, như Atlantis qua đời sống tiền kiếp của Thomas, hiển hiện là một nền văn minh cổ xưa có thật, không phải trong hư cấu.
Một cách đáng kinh ngạc và đầy uyên bác, tác giả xâu chuỗi các câu chuyện và tiến trình lịch sử, đưa ra những dẫn luận đầy thuyết phục để cho thấy vòng luân hồi và luật nhân quả không chỉ ứng nghiệm với một cá nhân, mà cả một quốc gia, cả những nền văn minh nhân loại. Mà ở đó, hiển hiện rõ nhất là câu chuyện tiền kiếp của Thomas. Một Ai Cập vĩ đại, đất đai trù phú, nhiều kiến thức uyên sâu và tư tưởng vĩ đại đã hình thành nhưng lại gieo quá nhiều tai ương để rồi phải chịu quả đắng gần hai nghìn năm sống dưới ách đô hộ của Nubia, Assyria, Ba Tư, Hy Lạp, La Mã, Ả Rập, Anh và Pháp. Một nền văn minh rực rỡ đã bị thiêu rụi chỉ còn lại những đền đài đổ nát và các kim tự tháp đầy bí ẩn.
Mời các bạn nghe sách nói tại đây, file pdf file pdf phần 2
Nếu bạn muốn tìm hiểu sâu hơn về các nền văn minh trong lịch sử, về thông điệp của người xưa, về Siêu Ngã, về hồi quy tiền kiếp xin vui lòng tham khảo thêm các tác phẩm: Vũ Trụ XoắnNhững người trông nom trái đất, Ba làn sóng tình nguyện và trái đất mới của tác giả Dolores Cannon.
Thái Thượng Cảm Ứng Thiên

Thái Thượng Cảm Ứng Thiên


Cảm Ứng Thiên là một kinh sách khuyến thiện rất cổ xưa trong vô số các kinh sách khuyến thiện của Trung Quốc. Nguyên tựa kinh này là Thái Thượng Cảm Ứng Thiên. Tựa kinh tiết lộ tác giả là Đức Thái Thượng Lão Quân tức Thái Thượng Đạo Tổ. Tuy nhiên cho đến nay, chưa ai biết về tác giả của Cảm Ứng Thiên.
Quyển Thái Thượng Cảm Ứng Thiên Linh Dị Ký (Ghi chép về những linh nghiệm kỳ lạ do trì tụng Cảm Ứng Thiên) của ngài Vô Tích Vạn Quân Thúc
Hào ghi rằng:“Tự Tấn dĩ lai, y thử tu thân thành chân giả đa nhân, phú quý giả dĩ bất kế kỳ số hĩ, phổ thiên hạ nhai cù lý hạng, vô bất truyền bố”. Tạm dịch: [Kinh này xuất hiện từ đời Tấn đến nay, người noi theo đó tu thân thành tiên (chân nhân) thì rất nhiều, người trở nên phú quý thì vô số kể; kinh này phổ biến khắp nơi]. Câu văn ngắn gọn này cho biết:
1.Kinh xuất hiện từ đời Tấn (265-420);
page6image55819648
2.Kinh này rất linh nghiệm giúp người trì tụng trở nên phú quý hoặc tu luyện thành chân nhân;
3.Và vì sự linh nghiệm ấy kinh được phổ biến khắp nơi.
Cảm Ứng Thiên hấp thụ tư tưởng và luân lý Nho gia. Các điều thiện trong kinh liệt kê thành 26 loại, các điều ác 170 loại. Cảm Ứng Thiên rất có ảnh hưởng đến hậu thế và được đưa vào Đạo Tạng 
Bố cục Cảm Ứng Thiên (Cảm Ứng Thiên) như sau: Mở đầu là phần khai kinh do Đức Thái Cực Chân Nhân giảng. Sau đó là phần kinh tụng chia làm 10 điều:
Điều 1 Minh Nghĩa. Thuyết minh tổng quát về họa phúc, thiện ác và nhân quả báo ứng. Đây là tông chỉ của Cảm Ứng Thiên, bao gồm 16 chữ « Họa phúc vô môn duy nhân tự triệu, thiện ác chi báo như ảnh tùy hình». Chín điều còn lại là khai triển điều một.
Điều 2 - Giám Sát. Thuyết minh sự giám sát nghiêm ngặt của thần minh đối với từng hành vi, ngôn ngữ, và tâm ý mỗi người. Từ đó nhấn mạnh rằng con người cần tránh xa tội lỗi.
page7image55635392
Điều 3 Tích Thiện. Thuyết minh rằng con người cần tích lũy điều thiện. Điều thiện cần xem xét và thi hành bao quát 3 mặt thân, khẩu, ý.
Điều 4 Thiện Báo. Thuyết minh sự báo ứng tốt đẹp xuất phát từ sự tích thiện.
Điều 5 và 6 Chư Ác. Liệt kê những điều ác mà con người thường gây ra. Đây là cái nhân xấu, dẫn đến cái quả xấu (ác báo) được giải thích ở điều 7.
Điều 7 - Ác Báo. Giải thích những quả báo xấu do những điều ác mà con người gây ra [nói ở điều 5 và 6].
Điều 8 Chỉ Vi. Chỉ ra cho thấy sự tế vi, nhấn mạnh sự linh ứng cấp thời: Ngay khi con người khởi tâm (thiện hoặc ác) thì cát thần hoặc hung thần đã chực sẵn để ra tay.
Điều 9 Hối Quá. Nhấn mạnh sự ăn năn sám hối tội lỗi đã qua và phòng ngừa cho khỏi làm ác về sau. Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành (không làm mọi điều ác, phải phụng hành mọi điều thiện). Được vậy thì lâu ngày sẽ trở nên tốt đẹp (cát khánh), đó là phép chuyển đổi họa thành phúc.
Điều 10 Luật Định. Những luật định ra về việc hành thiện và hành ác. Đức Thái Thượng dạy
page8image55669696
rằng nếu chúng ta đã biết luật định như vậy thì phải cố gắng làm lành lánh dữ.

Huệ Mệnh Kinh

Huệ Mệnh Kinh

Huệ mệnh kinh tự tựa.
Hoa dương tôi người làng Hồng đô, lúc nhỏ rất thích đạo Phật. Nhân vào chùa chơi nên có biết đôi chút về Phật, thường có hoài bảo đi xa. Khi được diện kiến với tăng, tôi thường vui sướng. Ngày kia, nghe một trưởng bối nói rằng, Ngũ tổ cách ba, âm thầm truyền đạo riêng cho Lục tổ. Tôi đứng một bên nghe vui sướng như vừa tỉnh mộng, nhận ra rằng người tu luyện tất cần có thầy chỉ bảo. Tôi đi khắp nơi cầu sư, trãi qua vô vàn gian khổ, đều không gặp được thầy. Sau đến Uyển thúy, chùa Song liên xuống tóc quy y. Càng thêm tìm hỏi, phàm các bậc thầy của tam giáo, tôi đều tìm đến tham cứu, nhưng chẳng có ai biết về yếu chỉ Huệ mệnh. Tôi tự than rằng: tìm thầy khó thật! Cứ đi thế này, sẽ uổng phí cả đời người! Sau tôi hốt nhiên tự phát niệm, cứ mỗi đêm canh hai quì lạy và nguyện cầu. Trời cao có cầu tất được.
Trải qua nữa năm, may gặp thầy Ngũ xung hư truyền cho tôi bí chỉ, hoát nhiên thông ngộ, mới biết rằng cái đạo của Huệ mệnh, tức là linh vật đã có sẵn trong ta.
Sau đó tôi đến Khuông lư, lại gặp thầy Hồ Vần, biết là người phi thường, tôi ân cần thọ lãnh.
Tiếp đó được thầy Ai dục, đại phát từ bi khai ngộ cho tôi những điều vi mật của sự cử diệu trong ngoài của linh khiếu, đều được chu đáo và triệt để. Đến lúc tôi ra đi, thầy mới dặn tôi rằng: Phật giáo song tu đến nay đã bị đọan diệt, con nên tiếp tục cái mệnh mạch để độ người hữu duyên. Tôi ẩn cư ở giang tả, cùng vài ba người đạo lữ khổ tu, bích thiền liễu nhiên, quần ngọc chân nguyên khổ tu đã thành xá lợi, khế mặc với sự truyền. Vì vậy, quyển sách này gọi là Huệ mệnh kinh. Vẽ đồ hình để khai mở bí mật của chư cổ Phật, tiết lộ nguyên cơ của các tổ sư, là phương tiện chân thực để tiếp dẫn hậu học.
Tôi nhận thấy người cầu đạo, đa số dựa vào các ngữ lục, trong đó có thực có sai, người hậu học khó biết được cái đạo huệ mệnh của Như Lai, ngộ nhập vào sáo ngữ cuả khẩu thiền, cuối cùng bị cái hại của ngữ lục làm ngu. Tôi đã đọc duyệt nhiều kinh sách với ấn chứng của thầy tôi, thấy chỉ có kinh Lăng nghiêm, kinh Hoa nghiêm và Pháp bảo đàn kinh mới là thực ngữ. Thiền sư thực lục, hòa thượng thực lục đều là vọng ngữ vậy. Muốn tu luyện đạo, không phải thực ngữ thì không thể chứng nhập chân lý, không đủ sức thắng hư vọng. Hư vọng thắng thì ma chứng sinh, tuy là ngừơi trí tuệ đi nữa, cũng không thể chứng nhập vào được. Cả ngàn năm nay, cái đạo Huệ mệnh chỉ bí mật đơn truyền khó mà biết đựơc. Nay tôi dùng những lời rõ ràng và thẳng thắn để đem Phật bảo lưu truyền, dùng làm cân mực cho sự tu luyện. Học giả đọc sách Huệ mệnh kinh này, chính như được truyền dạy. Chỉ cần kiên trì tu luyện, không cần cầu trợ ai mà Phật qủa, có thể chứng ngay được. Đó là bản nguyện của tôi khi khổ tâm cầu sư ngộ đạo vậy.
Càn long năm giáp dần, tại Hạ hồ khẩu, Truyền lư Liễu Hoa dương viết tựa.
Download ebook pdf tại đây
Dưỡng Chân Tập

Dưỡng Chân Tập

QUÁN THÔNG TAM GIÁO CỦA BẠCH-TẪN LÃO-NHÂN
(Ảnh: Youtobe Tự Học Kinh Dịch)
Thông Huyền lý (lý đạo Tiên) mà chẳng thông Thiền (đạo Phật), thế nào cũng mắc bịnh chấp nê. Thông Thiền lý mà chẳng thông Nho (đạo Thánh), chắc sẽ thành ra phe cuồn huệ.
Học Thiền, Nho thông rồi, mà lại mượn lý Đạo để rõ thông thêm nữa, chẳng những đời nay hiếm người, mà xưa kia trong hàng tăng nhân, đạo sĩ, trừ xứ Tử Dương, Liên Trì ra, thường không đặng mấy kẻ!
Năm Bính Ngũ, nhằm mùa hạ, một bữa kia, tình cờ tôi đến thư phòng của bạn tôi là Triệu Công, thấy trên bàn có một cuốn Dưỡng Chân tập. Hỏi ra cuốn sách này tự đâu mà có, thì mới biết rõ bạn tôi thỉnh nó tại chùa Huệ Phước, ở Hải Điền. Ông sư trong chùa này lại nhờ Trần Đề Đài trao cho. Đề Đài lại thỉnh của thầy dạy học trong nhà mình.
Tôi bèn mượn sách ấy đem về xem mới biết là của một người ẩn sĩ hiệu là Dưỡng Chân tử soạn ra. Tiếc vì trong đó không nói rõ họ tên, nhưng đoán là người trong nhóm Xích Tùng tử, Hoàng Thạch công thì chắc là không sai.
Cuốn sách này do nghiệp Nho, mà hiểu phép Thiền, lấy hư linh mà dưỡng Xá lợi; do phép Thiền mà chứng đại Đạo, mượn bát nhã để luyện Kim đơn. Bàn về bên "không", thì đều là chân truyền theo "cầm bông", "vẽ vách" (1); luận đến lẽ Đạo, thì không có giá tá thuộc diên cọp, hống rồng (2). Chỗ khoái vui của Khổng, Nhan (3), thì nhẹ tay mà vẽ bày; còn phần tân truyền (1) của Liêm, Lạc(2), lại tùy bút mà phát lộ. Hợp ba giáo đem về một mối, dẹp hết bạch mã, thanh ngưu, là điều huyễn tưởng; quy trăm nhà dẫn lại một đường, lậu tiết thiên tâm, thủy diện (3), là chỗ tinh vi. Chẳng xây lầu các ở giữa không trung, mỗi bước có nấc thang; tạo thành cầu kỳ trong nơi huyễn hải, mọi nơi vạch đường vạch lộ.
Nạp tử (người mặc áo bá nạp, là chỉ tăng lữ) mới chiều nếm vị (nếm mùi đạo đức), chẳng cần mười quyển Lăng Nghiêm; Vũ khách (khách mặc áo lông, là chỉ đạo sĩ) đi đứng noi theo, nào dụng năm ngàn Đạo Đức (cuốn Đạo Đức kinh có năm ngàn chữ). Cưỡi ngựa ra đi, viếng ít nhiều chốn mây nước ba ngàn nơi; quay đầu trở lại, mới ngồi yên trong động tiên mười hai cảnh.
Nhân thấy quyển sách báu lạ, hiếm có, tôi bèn quên hẳn sự quê dốt của mình, thêm chút ý ngu, đưa ra khắc bản, ngõ hầu sắp tới ai muốn tầm lý chân, chẳng cần tới quán Bạch Vân; mà cũng từ đây, kẻ mong tầm đạo chánh, khỏi phải vào lầu Hoàng Hạc. Mò châu lượm ngọc, toàn mong nơi mắt sáng bậc cao minh; thoát xác phi thăng, ngõ đáp tấc lòng lành người tác giả.
Ôi! Kiền khôn lớn thế này, phải có khách tri âm; còn thế giới rộng dường kia, há không người kiến tính.
Vừa chấm bút đã suốt mấy lời, ấy vô tâm mà thành bài tựa.
Hiệu Càn Long, năm Đinh Mùi, thượng nguyên, ngày hoa đăng.
Bạch Tẫn lão nhân, tên tộc là Vương Sĩ Đoan, đề tựa này ở Bồng hồ (4) tại trần thế (chót núi Hiểu Phong).

(Bản dịch của Ngài Nguyễn Minh Thiện)

Download ebook tại đây