Chỉ huyển thiên


“Chỉ huyển thiên” thi chú – Chú giải thơ trong sách “Chỉ huyển thiên”
Tác giả: Lã Động Tân
Người chú: Bạch Ngọc Thiềm

Bài tự
Ta vốn là người tinh thông Nho học, lên kinh ứng thì, giữa đường được gặp gỡ Chính Dương tiên ông, người thương xót chỉ cho ta tu luyện đại đạo, nhờ đó ta bèn từ bỏ công danh. Ban đầu, ta có lòng ngờ vực, sau được chỉ rõ mới tỉnh ngộ, lại tìm đến hỏi thánh sư, băng rừng lội suối, đi đến tận Chung Nam, rạp đầu xin hỏi nguồn căn của đạo. Người không trách cái lỗi trước của ta, truyền cho ta “Thái thượng vô lượng độ nhân diệu kinh”, và “Đan phòng bí quyết”, dặn dò nhấc nhở ta nhiều lần, dạy ta náu thân, âm thầm tu luyện đại đạo, luyện hái hoàn đan, thóat đường sinh tử, nhập vào cõi vô sắc vô thanh, ung dung dạo chơi chốn trường sinh. Ta nghe lời người, cảm thấy vui mừng và kính cẩn, rạp đầu bái tạ ân của người, rồi từ biệt thánh sư vân du chốn đời trần, nguyện sẽ độ cho trăm người thành đạo, quay về phụng sự đạo chân. Không ngờ đám người mê muội ở trần thế chỉ biết ghét chết mà không chịu cầu tìm cái sống, không ngộ ra huyền cơ, không hiểu diệu lý, ngược lại còn sinh lòng phỉ báng. Kẻ chấp trước mà ôm ấp dục vọng sai trái, kẻ uống lấy kim thạch, thảo mộc, thôi thì đủ kiêu ngu si, đến nỗi sa vào cõi mê, đến già chết vẫn không biết hối hận. thật đáng tiết vô cùng. Ta vốn thương xót họ mà không thể cứu với, bèn riêng làm ra sách “Chỉ huyền thiên”, cất giữ trong thach thất ở thành Châu Thanh, cúi đầu vái trời rồi phất áo ra đi. Bậc quân tử ngày sau gặp được sách này, chính là có mối duyên ba đời. Nhận lĩnh bí quyết của ta ắt phải mũ miện áo xống chỉnh tề, có đủ hương (nhang), hỏa (lửa), đèn và thủy (nước), vào giữa đêm thanh tĩnh quay mặt về hướng sao Bắc Đẩu, dốc lòng cảm tạ các bậc cao chân, ngày ngày kiên trì thành tâm, cảm kích đấng tiên thánh. Như vậy sẽ tự có bậc minh sư gợi mở tỉ mỉ, rõ ràng về các việc tiến thoái thủy hỏa, cân lạng của thuốc; sau khi tỏ tường, hãy bắt đầu ẩn thân tu luyện long hổ đại đan, thoát thai nhập khẩu, tiếp thêm mệnh sống, kéo dài tuổi thọ, dồn đuổi ma quái. Tu được ba nghìn ngày thì công hạnh viên mãn, đột ngột được triệu bay lên,tiêu dao ngoài cõi vật, thọ ngang cùng trời, không khác gì ta cả. Do vậy nên làm bài tự này.

Thiên thượng 

Bài 1

Phiên âm: Thán thế phàm phu bất ngộ không, mê hoa luyến tửu tống anh hùng. Xuân tiêu lậu vĩnh hoan ngu xúc, tuế nguyệt trường thời tử hạn công. Lộng xảo thường như miêu bộ thử, quang âm do tự tiễn ly cung. Bất tri sử đắc tinh thần tận, nguyện bả thân thi táng thổ trung.

Dịch nghĩa: Than tiếc cho những kẻ phàm trên trời không ngộ ra chữ “không”, say hoa luyến rượu cho thỏa sức anh hùng. Đêm xuân cứ dần trôi, vội vàng hưởng niềm hoan lạc, tháng năm dài cái chết đã đến nơi. Khéo lắm cũng như mèo vồ chuột, thời gian lại giống mũi tên bắn đi khỏi cung. Không hiểu biết để tiêu hết tinh thần, đành cam chịu vùi thân vào trong đất.

Ngọc Thiềm chú: Tiên sư Thuần Dương từ bi, có lòng gợi mở lớn lao và dẫn dắt mọi người nên than người đời xấu xa mê muội, tự chôn thân mình. người xem sách đời sau có thể thấy rằng lời của tiên ông không phải là vô nghĩa. Nên quay đầu ngộ đạo, chớ để thời gian trôi qua uổng phí. Nếu không có lòng từ bi vô cùng, ai lại nhọc lòng khuyên người như thế?

Bài 2

Phiên âm: Tích niên ngã diệc phó khoa trường, ngẫu ngộ tiên sư cổ đạo bàng. Nhất trận hương phong phiêu vũ tụ, thiên điều vân đới nhiễu nghê thường. Khai ngôn cú cú đàm huyền lý, khuyến thế thanh thanh xướng đỗng chương. Ngã quý ngã vinh đô bất tiện, trùng trùng tái giáo luyện hoàng phòng.

Dịch nghĩa: Năm xưa ta cũng lao vào chốn khoa trường. Tình cờ gặp tiên sư bên đường. Một trận gió thơm thổi phất phơ ống tay áo lông vũ, nghìn dãi mây quấn xiêm áo bằng cầu vòng. Người nói, từng câu từng câu bàn về huyền lý; khuyên đời, từng lời từng lời nói rõ đỗng chương. Phú qúy vinh hoa, ta đều không tham muốn nữa, thận trọng lui về tu luyện chống hoàng phòng.

Ngộc Thiềm chú: Bài thơ này tự kể về việc gặp gỡ lão tổ Chung Ly, có ý giảng đạo khuyên mọi người chuyển hoà tâm tưởng. Ống tay áo lông vũ, xiêm y bằng mây là nói trang phục của nhà tiên. Huyền lý (lý lẽ u huyền) và đỗng chương (lời lẽ sâu xa) chỉ sự nghiệp tu luyện của tiên gia. Hoàng phòng (chốn phòng the), không phải là hoàng phòng trong trần thế mà là nơi trung ương (chính giữa) thuộc thổ, nơi ngọc hoàng cư ngụ.


Bài 3

Phiên âm: Huyền thiên chủng chủng thuyết âm dương, nhị tự danh vi vạn pháp vương. nhất lập túc trung tàng thế giới, bán thăng xanh lý chử sơn giang. Thanh long giá hỏa du liên thất, bạch hỗ hưng ba xuất đỗng phòng. thử cá công phu chân thị xảo, đắc lại bình bộ thướng thiên đường.

Dịch nghĩa: Các loại sách về đạo huyền đều nói đến âm dương. Hai chữ “âm”, “dương” này là vạn pháp vương (thống lĩnh vạn pháp). Trong một hạt thóc tàng ẩn cả thế giới, trong chiếc chõ nhỏ nấu cả giang sơn. Rồng xanh nương theo lửa dạo chơi ở nhà sen, hổ trắng thừa theo sóng ra khỏi hang sâu hút. Công phu này thật là tuyệt diệu, đạt được nó ắt ung dung bước lên thiên đừơng.

Ngọc Thiềm chú: Hai chữ âm dương mang rất nhiều lý lẽ diệu kỳ trong đó. nếu muốn xem hình dong thì chúng là rồng, hổ. Một hạt (thóc) chính là cái ban sơ hỗn độn, là khí tiên thiên, do vậy có thể bao trùm trời đất, nuôi dưỡng muôn loài. Chiếc chõ nhỏ là vạc luyện thuốc, không phải chõ thường làm bằng sắt. Rồng xanh ở hướng đông, hướng đông thuộc mộc, mộc sinh hỏa nên nói nương theo lửa, đây không phải nước lửa bình thường. Nếu đi tìm đại dược, có chân thì có thể đi, nên hình dung ra vật sống. Phòng sen là nơi đan phòng. Hổ trắng ở hướng tây, hướng tây thuộc kim, kim sinh thủy, nên nói thừa theo sóng. Sóng không phải sóng biển, kim không phải kim loại bình thường, nếu muốn tìm kim thủy, có tay có thể nắm lấy, nên cũng hình dung ra vật sống. Những đời gần đây phần nhiều cho là nước lửa bình thường, nên luyện kim thạch thảo mộc để dưỡng thân, thật vô cùng đáng thương. Đỗng phòng (hang sâu hút) là nơi đan xuất hiện. Ôi! người đọc sách này nên biết là thần tiên ca tụng đại đan. Nếu có thể hiểu được nó thì dù biến hóa bay lên trời hay ẩn vào trong đất đều không ai lường được.


Bài 4

Phiên âm: Tầm thiên quyệt địa kiến thiên quang, chủng đắc kim hoa quả thực cường. Na phạ thế gian chư ngạ quỷ, hà sầu địa hạ lão diêm vương. Chính tâm thu trụ hoàng long tủy, trương khẩu cầm thốn bạch hổ tương. Bất thị thánh sư đương nhật quyết, thùy nhân tác đắc giả văn chương.

Dịch nghĩa: Tìm nơi trời đào nơi đất để thấy ánh thiên quang, trồng được giống hoa vàng quả thật kiên cường. Nào sợ các loài ngạ quỷ trên thế gian, nào lo lão diêm vương dưới đất. Giữ tâm ngay thẳng mà thu tủy của rồng vàng, há miệng mà ngậm tương của hổ trắng. Không phải do thánh sư dạy cho ngày ấy, ai có thể viết được những câu này.

Ngọc Thiềm chú: Lão tử nói: “(Đạo) có trước trời đất”. Nếu muốn thấy nó phải tìm nơi trời đào nơi đất. Tìm được nó thì sợ chi quỷ thần? Tuỷ rồng, tương hổ là tên gọi của thuốc. Thuần Dương được tổ Chung Ly truyền cho, mới biết về lẽ huyền diệu mà viết ra những bài thơ về Đại đan lưu truyền hậu thế. Người đọc xem và nghiền ngẫm, tin nhận lấy lời huyền diệu này.


Bài 5

Phiên âm: Nhất tam ngũ số tổng giai xuân, hậu địa tiên thiên hiện lão quân. Hoa phát tửu xuyên phô cẩm tú, minh nguyệt bắc hải khánh phong vân. Hảo phao sinh kế vu tư mịch, mạc sính phù hoa hướng ngoại doanh. Niệm niệm bất vong trần cảnh diệt, tĩnh trung cánh hữu biệt càn khôn.

Dịch nghĩa: Số nhất (một), tam (ba), ngũ (năm) đều thuộc mùa xuân, đất sau trời trước hiện Lão Quân. Hoa nở vùng Tây xuyên rực rỡ màu cẩm tú, trăng sáng nơi biển bắc mừng gió mây. Nên vứt kế sinh nhai mà tìm đạo ở đây, chớ chuộng phù hoa mà mưu sự bên ngoài. Lắng theo từng niệm, cảnh trần tiêu biến, trong tĩnh liền phân ra càn, khôn.

Ngọc Thiềm chú: Một, ba, năm (số lẽ) là số dương, hai, bốn, sáu (số chẵn) là số âm. Kẻ sĩ tu tiên, có thể biết một sinh hai, hai sinh ba, ba sinh ra vạn vật sẽ có ngay hoàn đan vô giá, không mắc sai lầm. Trời sau đất trước nghĩa là trong đất có khí nhất dương bay lên, trời có khí nhất âm giáng xuống. Hai khí này tương giao, sinh ra vạn vật thì ứng với quẻ Thái; hai khí này không giao nhau, ứng với quẻ Bĩ. Chân âm, chân dương là những thứ vô hình vô ảnh trong trời đất, đưa mắt nhìn thì không thấy, lắng tai nghe lại không nghe ra. Nếu nắm bắt được thì chính là hoa nở trăng sáng. Hoa nở vào mùa xuân, trăng sáng vào đêm rằm, tu đan luyện dược phải biết thời. Không gặp chân sư khó lòng hiểu trên trang giấy. Được chân sư chỉ dẫn, bỏ hết gia nghiệp, thừa theo thời mà ẩn lánh tu luyện, không được chậm trễ. Nếu chậm trễ, thuốc quá thời, thành ra vô dụng. Thời trong luyện đan là lắng theo từng niệm, đạo tâm cứng rắn như sắt, không để cảnh trần tục lôi kéo, sắc dục che lấp, trong động có tĩnh, nên thời này u huyền khó biết, là cái được gọi là công phu lúc động lúc tĩnh. Ôi! Ý thật kỳ diệu! học đạo vốn không có trước và sau, măng non mọc lên cũng giống như tre già đã cao.

Bài 6

Phiên âm: Thế gian vô vật khả khai hoài, phụng khuyến thế nhân mạc tự mai, hảo sấn phong vân chân tế hội, tu cầu loan phượng ám hoà giai. Lưỡng trùng thiên địa thùy năng phối, tứ cá âm dương ngã hội bài. hội đắc thử huyền huyền nội sự, bất sầu đương đạo hữu lang sài.

Dịch nghĩa: Thế gian không vật gì có thể mở được chiếc bọc để thoát ra, xin khuyên người đời chớ tự vùi lấp mình, nên nương theo mây gió mà hội tụ ở cõi chân, nên tìm loan phượng để ngầm có sự hài hoà. Hai tầng trời đất ai có thể phối ngẫu, bốn cái âm dương ta có thể gạt ra. Hiểu được sự lý bên trong đầy huyền bí này, không còn lo trên đường gặp phải giống sài lang.

Ngọc Thiềm chú: Vinh hoa, phú quý ở thế gian đều là chiếc lưới giăng khắp trời. Chúng sinh bị chiếc lưới này chụp lấy nên không thể cắt mở bọc chui ra. Chỉ bậc cao chân, bậc thượng thánh trí tuệ lớn lao, đẩy lùi phù hoa, luyện được hoàn đan nên vượt qua ba cõi thế giới (trời, người, địa ngục), vĩnh viễn không còn ưu lo. Cho nên, chân tiên khuyên người đời chớ tự vùi lấp, nhấn chìm bản thân. Ôi! Chưa được gặp chân sư, ai biết được âm dương trong trời đất? Ý của người rất đỗi sâu xa, khó biết, chỉ duy thần tiên có thể thấu suốt chân tướng của sự lý mà hiểu lẽ phản hoàn (trở về nguồn cội). Thế thì còn sợ gì giống hổ sói trên đường, sợ gì rắn rết bò khắp nơi? Tự tại, tiêu dao, thọ ngang cùng trời kia. Ôi? Thần tiên đều từ người phàm tu luyện mà thành, chỉ buồn nỗi người phàm hầu hết đều chẳng có lòng tin.


Bài 7

Phiên âm: Tiền huyền chi hậu hậu huyền tiền, viên khuyết trung gian khí tượng toàn. Cấp xúc hổ long trường thượng chiến, mang tương thủy hoả đỉnh trung tiên. Y thời cánh kiến hoàng kim Phật. Quá hậu nan phùng bích ngọc tiên. Ngộ đắc thánh sư chân khẩu quyết, giải lao ốc hạ hữu thanh thiên.

Dịch nghĩa: Sau lúc thượng huyền trước lúc hạ huyền, ở khoảng giữa tròn và khuyết, tượng của khí đã thành hình. lập tức dồn rồng hổ giao chiến với nhau, nhanh tay cho thủy hỏa vào đỉnh nung luyện. đến lúc thành công liền có Phật vàng hiện ra, để trễ e khó gặp tiên ngọc bích. Tỏ ngộ chân quyết của thánh sư ắt nhìn thấy dưới nhà có một bầu trời xanh.

Ngọc Thiềm chú: Kẻ sĩ luyện đan chớ hỏi về trước sau của lưỡng huyền, chỉ cần xem trăng tròn, trăng khuyết. Trăng tròn, lúc nhụy ngọc sinh ra; trăng khuyết, lúc hoa vàng rơi rụng. Lúc sinh nên dụng công, lúc rụng thì đừng. Rồng phía đông, hổ phía tây, khoảng cách giữa chúng rất xa. Người học đạo nhân lúc tròn khuyết, bắt chúng giao chiến. Thủy hỏa chính là nguyên khí có trong rồng hổ. Đưa vào đỉnh vàng, thận trọng nung luyện. Thủy lạnh nên cần tàng hỏa, thủy sôi cuộn lên nên rút bớt hỏa ra. Tiến thoái theo đúng lẽ mới bảo đảm thành công. Tiên sư còn nói đến hai chữ “y thời”, dặn dò kỹ lưỡng, dạy cho hiền sĩ mộ đạo đời sau, có thể nhân lúc trăng tròn mà luyện công thì rất tốt, đây không phải là chuyện tầm thường. Phật vàng là Đại giác kim tiên trong Phật giáo, chân thân của người cao sáu trượng, cũng tu luyện theo lý lẽ đại đan. Đến như số trong “Chu dịch” vô cùng sâu sắc, huyền bí khó biết, lão tiên Nguỵ Bá Dương sau khi luyện được đan đã viết “Tham đồng khế”, lưu truyền trên đời, lời ông giống như giải thích “Chu dịch” nhưng thật ra là bí quyết về đại đan. Trong đá cứng tàng ẩn của báu, mắt người chưa nhìn ra, Biện Hoà một khi đã nhìn thấy, sao chịu không giữ nó bên mình. Quá trễ thì khó gặp, là nói lúc trăng khuyết, lúc này còn làm được chi. Dưới mái nhà có bầu trời xanh, đây không phải chuyện phù phiếm. Theo lý lẽ của thế gian thì trời phải ở trên trời, dưới mái nhà sao có thể chứa được bầu trời? Nhưng đạo của thần tiên, đảo điên nhiều mối. Trong lửa trồng sen, trong nước bắt hổ, ở nơi chết lại gặp sự sống, cho nên mới cần chiếc thang linh để đi lên trời.


Bài 8

Phiên âm: Tu tiên thiện sĩ mạc si mê, vu thử nghi đương tải kiến cơ. Hoa phát niêm hoa tu tử tế, nguyệt viên thưởng nguyệt mạt diên trì. Đắc lai hợp khẩu cần phanh luyện, ký tế lưu công mặc thủ trì. Tùng thử bất tu tâm áo não, quản giao bình bộ yến Diêu trì.

Dịch nghĩa: Kẻ sĩ tài giỏi tu tiên chớ lầm lạc, từ đây nên sớm nhận ra chân cơ. Hoa nở hái lấy phải cẩn thận, trăng tròn thưởng trăng chớ chậm trễ. Có được thứ thích hợp thì chuyên cần nung luyện, đã luyện đến mức các thứ tiếp hợp nhau thì ngưng công phu, trầm mặc giữ gìn. Từ đây không cần canh cánh trong lòng, ung dung lên dự yến tiệc ở Diêu trì.

Ngọc Thiềm chú: Hoa nở trăng sáng, ở trên đã tiết lộ những điều này. Hoa không là hoa trên núi, trăng không là trăng trên trời. Phải biết rõ rằng, nhà nhà đều có hoa trăng này, người người đều có thể tu luyện. Thủy hỏa không hợp được với nhau, hào quẻ không tương ứng nhau; thủy hỏa hợp nhất thì luyện đã thành. Ngưng công phu, trầm mặc giữ gìn, sau đó tu luyện lại như lúc đầu. Đủ thời gian, công phu hoàn bị, cùng giống với quần tiên, lên dự yến tiệc trên cõi thánh Diêu trì. Đây không phải là điều không có thật. Ôi! Động Tân sau khi có chân diên, bỏ bầu rượu đập vỡ đàn; truyền cho người học sau ông giữ chặt chính niệm, để khiến lục căn tuy có tai nhưng không nghe âm thanh bên ngoài.



Bài 9

Phiên âm: Yêu tri đại dược diệu thông thần, bất thị phàm sa cập thủy ngân. Thế gian dược tài câu thị giả, nhân thiêu thủy hỏa tổng phi chân. Hữu hình hữu chất hà tu luyện? Vô tượng vô danh tự khả thân. Nhất đắc tiện siêu tam giới ngoại, thừa loan khoát hạc yết phong thần.

Dịch nghĩa:

Nên biết đại dược diệu dụng thần thông, không phải đất thường hay thủy ngân. Các loại dược liệu trên thế gian đều giả cả, người người nung luyện bằng nước lửa đều không đúng đạo chân. Có hình có chất thì cần chi tu luyện? Không ảnh không tên tự mình có thể đạt được. Một lần đạt tới liền vượt ra ngoài ba thế giới, cưỡi loan cưỡi hạc đến diện kiến ở cung vua.

Ngọc thiềm chú: Thuốc quý đại đan, vô cùng linh nghiệm và thần thông, không phải kim thạch thảo mộc bình thường ở thế gian, không phải chì đen hay thủy ngân, cũng không cần dùng đến lò, vạc, nước lửa, những vật hữu hình. Bởi diệu dược linh đan là tổ khí sinh ra trời đất, khó nắm khó nhìn, ẩn bên trong huyền tẫn sâu thẳm và trống không. Duy bậc thần tiêu thấu hiểu âm dương, tạo hóa, xoay chuyển được sao Đẩu, vượt qua cả sao Ky, thầm hợp với chuẩn phép của trời, gôm tụ ngũ hành, hoà hợp tứ tượng, sinh ra rồng gầm hổ hú, trời đất động tĩnh, mới có được tổ khí nguyên thủy này, làm nó hóa thành viên ngọc thử mễ giáng xuống trong không, đón lấy nó nuốt xuống thì hoàn nguyên tiếp mệnh (trở lại bản gốc, kéo dài mệnh sống), thành khách trường sinh, đến đi không để lại hình bóng, nên dễ dàng thiên biến vạn hóa, tự tại tiêu dao. Người học đời sau, chớ nghe những ông thầy xấu mà mê lầm về tính mệnh, học phải nghiền ngẫm tỉ mỉ, chọn theo chỗ đúng, bỏ chỗ mờ ám. Ôi! Người mê tự mê muội, vạn vật nên thấy cùng được lý của chúng, chuyên tâm như gà mái ấp trứng.
Bài 10

Phiên âm: Thiên cơ bất tiết thế nan tri, lậu tiết thiên cơ tả tác thi, đồng loại chú thành khu qủy kiếm, cộng sàng tác khởi thượng thiên thê, nhân tu nhân độ siêu trần thế, long yêu long giao xuất ô nê. Mạc quái chân tình đô thực thuyết, chỉ duyên yếu độ chúng quần mê.

Dịch nghĩa: Thiên cơ không tiết lộ ra đời khó biết, vì muốn tiết lộ thiên cơ nên làm thơ này. Dùng những thứ đồng loại đúc thành kiếm trừ ma qủy, chồng vợ giao hòa lên được thang trời. Người tu người độ vượt qua trần thế, rồng cần rồng giao thì ra khỏi bùn lầy. Chớ lạ vì chân tình đều nói rõ ra, chỉ monng cứu độ đám người mê.

Ngọc Thiềm chú: Đồng loại, tức trời lấy đất làm đồng loại, mặt trăng lấy mặt trời làm đồng loại, nam lấy nữ làm đồng loại, dương lấy âm làm đồng loại. “Khế” viết: “Châu Trần cưỡi rắn, rồng xanh hổ trắng hú gọi lẫn nhau, nâng đỡ nhau và nhảy múa bên nhau, điên đảo tu theo đó, lấy khảm lấp vào ly.” Ở bài thơ này, Thuần Dương thực sự đã tiết lộ thiên cơ. Thiềm tôi xin giải thích thêm, chỉ mong vạn vạn người học sau này cùng học mà vào cõi trường sinh, mỗi người nên sớm tu trì, chớ để đời sống này trôi qua trong lầm lạc.

Bài 11

Phiên âm: Phản bản hoàn nguyên dĩ đáo càn, năng thăng năng giáng tác (có bản ghi là “hiệu”) phi tiên. Nhất dương phát (có bản ghi “sinh”) thị hứng công nhật, cửu chuyển chu vi đắc đạo niên. Luyện dược đãn tầm châu ly hống (có bản ghi “kim lý thủy”), an lô tiên lập địa trung thiên. Thử trung tựu (có bản ghi “tiện”) thị hoàn đan lý, bất thị chân (có bản ghi “kỳ”) nhân mạc lãng (có bản ghi “thệ mạc”) truyền.

Dịch nghĩa: Phản bản hoàn nguyên đến được nơi càn, mặc sức bay lên hạ xuống thành phi tiên (tiên bay). Nhất dương sinh ra đó là lúc tập trung công phu tu luyện, xoay chuyển chín lần đó là thời gian để đắc đạo. Luyện thuốc phải tìm hống trong châu, đặt lò đầu tiên phải gây dựng trời trong đất. Ở đây chính là lý của việc hoàn đan, không phải chân nhân chớ truyền rộng ra.

Ngọc Thiềm chú: Muốn phản bản hoàn nguyên cần làm cho trời đất tương hợp, rồng hổ giao nhau mới thành ra mộc hỏa giáng xuống, kim thủy dâng lên. Muốn biết khi nhất dương sinh, cần đặt lò kê vạc, khoét đất tìm trời, hái đan để tiếp mệnh (tiếp thêm mệnh sống). Người biết điều này chớ truyền loạn ra ngoài. nếu không phải người có đạo tâm vững vàng, dù vàng ngọc chất đống cũng xem như phù vân (đám mây trôi trên trời); dù là cha con cốt nhục cũng không được truyền. Nếu đạo tâm không vững vàng, dám xem nhẹ mà truyền cho người, trời tất giáng tai ương, chín đời trầm luân. Bảo bối bí mật về hoàn đan là “Độ nhân kinh” viết: “Một lần truyền đánh động bốn phương”, nên Thuần Dương khuyên răn cho biết. 



Bài 12

Phiên âm: Thiên sinh nhất vật biến tam tài, giao cảm âm dương kết thánh thai. Long hổ thuận hành âm quỷ xuất (có bản ghi “khứ”), quy xà nghịch vãng hoả thần (có bản ghi “long”) lai. Anh nhi nhật thực (có bản ghi “ngật”) hoàng bà tủy, xá nữ thời sạn bạch ngọc bôi. Công mãn tự nhiên cư vật ngoại, nhân gian hàn thử nhậm luân hồi.

Dịch nghĩa: Trời sinh một vật biến ra tam tài (trời, người, đất), âm dương giao cảm kết thai thánh. Rồng hổ thuận đường thì quỷ âm rời đi, rùa rắn chạy ngược thì thần hỏa đến. Đứa trẻ đến lúc ăn tủy hoàng bà, cô gái đến lúc uống cốc bạch ngọc. Công phu viên mãn tự nhiên ở ngoài tạo vật, mặc cho nhân gian nóng lạnh quay vòng.

Ngọc Thiềm chú: “Nhất vật” chính là chân diên. Bởi chân diên sinh ra trước trời đất nên được gọi là nhất khí nguyên thủy, có thể sinh ra trời đất và vạn vật. nay muốn quay lại tìm nó cần dùng sự giao cảm âm dương, chuyển ngược tạo hóa, làm được vậy có thể thành tiên thành phật. Bậc thượng thánh đã biết tính của hống ưa bay, gặp diên bèn kết lại, nên luyện chân diên nhằm chế phục chân hống, như mẹ nắm lấy con, không để trốn mất, có vậy mới kết ra thai thánh trở thành thần tiên trường sinh bất lão.


Bài 13

Phiên âm: Tiên thiên nhất khí hiệu hư vô, vận chuyển năng giao cốt bất khô. Yêu thức hống căn tầm đế tử, phương cầu diên bản vấn tiên cô. Nhân nhân hội ẩm trường sinh tửu, cá cá năng thành bất tử phu. Sắc tức thị không không tức sắc, lãng nhiên phi quá Động Đình hồ.

Dịch nghĩa: Nhất khí tiên thiên được gọi là hư vô, chuyển vận có thể khiến xương cốt không khô cứng. Muốn biết gốc của hống thì tìm Đế tử, muốn hỏi rễ của diên thì tìm tiên cô. Người người uống được rượu trường sinh, người người đều thành bất tử. Sắc chính là không, không chính là sắc.

Ngọc Thiềm chú: Khí tiên thiên là diên, vô hình mà có thể khống chế hống. Ly thì trống, khảm thì đầy, lấy mà bổ sung vào nhau, tinh của hống không thể bay đi, nên kết thành thai, biến hóa thành thần. Sự vi diệu nằm ở chỗ tâm như thái hư, cảnh và sắc đều quên cả, quên cái không thể quên mới tìm ra sự vi diệu này. Nếu có người muốn tu luyện ngang tàng, cuối cùng không thể thành công.


Bài 14

Phiên âm: Đại đạo huyền cơ điên đảo điên, hiên phiên địa phủ yêu tầm thiên. Quy dăng cộng huyệt thùy năng kiến, long hổ đồng cung thục cảm ngôn? Cửu hạ cao sơn sinh bạch tuyết, tam đông phần hoả chủng kim liên. Đinh ninh học đạo chư quân tử, hảo bả vô mao mãnh hổ khiên.

Dịch nghĩa: Huyền cơ của đại đạo nằm ở sự điên đảo, lật địa phủ muốn tìm trời. Rùa và ruồi ở chung hang, ai thấy được điều này? Rồng và hổ ở chung nhà, ai dám nói vậy? Núi Cửu Hạ cao sinh ra mây trắng, ba mùa đông đốt lửa trồng hoa sen vàng. Nhắc nhở người quân tử học đạo, nên nắm kéo con mãnh hổ không lông mao. 

Ngọc Thiềm chú: Huyền cơ của sự điên đảo ở bài trên đã tiết lộ, Thuần Dương lại làm bài này, ngại lòng tin của người đời sau không vững. Biết kéo chú mãnh hổ không lông mao thì không còn cách xa đạo nữa.


Bài 15

Phiên âm: Địa thượng linh chi thiên thượng an, thời trung thái đắc kết thuần càn. Vô căn tự hữu dương xuân chí, hữu bản đa nhân khí mạch triền. Xá nữ hí thời thần lực tráng, anh nhi vũ xứ đạo tâm kiên. Khả liên thế thượng vô tri thức, ngã đắc trường sinh thọ vạn niên.

Dịch nghĩa: Nấm linh chi có trên mặt đất, sự an lành ở nơi trời. Đến lúc hái lấy kết thành vật thuần càn. Không cội mà tự có mùa xuân đầy dương khí đến, có gốc đa phần do khí mạch đan nhau. Khi cô gái (xá nữ) đùa, thần lực mạnh mẽ; lúc đứa bé (anh nhi) múa, đạo tâm kiên cường. Đáng thương trên đời không có người hiểu biết, ta được trường sinh thọ vạn năm.

Ngọc Thiềm chú: Hoa quả không ở nơi trời đất mà nằm chính thân ta; anh nhi và xá nữ không có mối mai không gặp gỡ. Có duyên sẽ tỏ ngộ được, ắt thành tiên. Ôi! chỉ đợi ngày bông hoa của mẹ đất nở ra thì sông Hoàng Hà trong veo nhìn suốt đáy.


Bài 16

Phiên âm: Khuyến quân bảo trọng nhất phần âm, ngộ thử tiên cơ tại dụng tâm. Chỉ thị nhân tâm thường vận chuyển, hà lao vật ngoại khổ sưu tầm. mang cầu bắc hải sơ triều thủy, quán tế đông sơn lão thụ căn. Thử huyền cơ trùng lậu tiết, đàn cầm tu yếu ngộ tri âm.

Dịch nghĩa: Khuyên anh giữ lấy một phần âm, ngộ ra tiên cơ này là bởi biết dụng tâm. Chỉ luôn chuyển vận ở thân người, việc gì vất vả tìm bên ngoài. Mau tìm thứ nước mới dâng lên trên biển bắc, tưới gốc cây già ở núi phía đông. Huyền cơ này lại một lần được tiết lộ, đàn cầm cần gặp bậc tri âm.

Ngọc Thiềm chú: Mười sáu bài thơ trên nói số nhị bát nhất cân (hai lần tám lạng ra một cân). Tiên xưa thường tiếc một phần âm, người ngày nay ngược lại có kẻ nín thở tu luyện đưa thân đến chỗ chết, còn không biết hối hận. Nên tiếc lấy tinh khí, chớ nghe những ông thầy xấu xa mê hoặc, luyện uống các thứ thảo mộc, đá sỏi đều là chuyện hồ đồ, xa vời với đạo. Có những hạng phàm phu dốt nát lại không biết cách thoát khỏi thế gian, không hiểu lý lẽ thâm sâu trong việc hoàn đan, sinh ra bàn luận xằng bậy, chúng đều cho rằng để tu được đạo, luyện được đan tất phải vào ở trong núi thẳm hang sâu, tất phải bỏ vợ lìa con. Hạng người này thật đáng thương! Thiềm nay chỉ rõ ra rằng, mỗi luận thuyết đều nên xem xét kỹ. Những vật có trong núi núi sâu là cây cỏ cầm thú đều không là đồng loại với ta, vậy sao có thể dùng tu luyện hoàn đan? “Ngộ chân” có viết: “Chưa luyện hoàn đan chớ vào núi, bên trong bên ngoài núi đều không phải là diên. Thứ của báu này nhà nhà đều có, chỉ anh ngu si mới không nhận ra.” Lại viết: “Hống là vật vốn có trong nhà ta. Diên là cái bất tử ở nhà khác”. Luyện thảo mộc kim thạch để uống, nếu đoán bừa cân lạng hẳn bị độc chết mà sa vào vòng luân hồi. Nay, Thuần Dương viết: nước ở biển bắc mới dâng trào, tức suối ngọt mới chảy ra trong giếng đan, thực sự là của báu khó có. Hai chữ “sơ trào (mới dâng lên)” chính là chỉ nhất khí tiên thiên, khí chân diên, nên nói nó vô cùng quý giá. Của báu vô giá này là mẹ của đại đan. Cây khô ở núi phía đông, dùng nước suối phía bắc tưới cho, lá cành lại tươi tốt, góc rễ mãi mãi vững bền. Có lời ca rằng: Chính khí ở phương bắc là hà xa, giáp ất ở phương đông là đan sa. Hai thứ tình của chúng cùng dưỡng chung thành một thể, chu tước chuyển vận điều hòa sinh ra kim hoa. “Khế” viết: Đan sa là mộc tinh, gặp được kim, thái dương tuôn châu ngọc, luôn muốn đuổi theo người.” Cuối cùng cũng được kim hoa, chuyển vận mà nương tựa lẫn nhau, đây chính là ý này. Vạn quyển đan kinh trước đây đều không để lộ thiên cơ. Nay Thiềm lại thích rõ ra, âm thanh dưới ngón đàn đời không ai hiểu. Nơi giữ sách này sẽ có thần thánh hộ trì bảo bọc. Người học tu tiên, có duyên mà được hãy tin lấy để tu luyện, ắt được sánh cùng thiên tiên.
Thiên hạ 

Bài 1

Phiên âm: Thế nhân nghi giả bất nghi chân, nan độ trường sinh thượng phẩm kinh. Bất miễn thiên cơ trùng lậu tiết, linh đan chỉ thị khí hoà tinh.

Dịch nghĩa: Người đời ưa điều giả mà không ưa điều thật, khó lòng cứu độ họ bằng kinh trường sinh hàng thượng phẩm. Nên ta không tránh được việc tiết lộ thiên cơ một lần nữa, linh đan chỉ là khí và tinh.

Hoà bàn: Tiên thánh Thuần Dương đạt đến toàn chân, từ bi giảng lại kinh hàng thượng phẩm. Người học đời sau nên ân cần và yêu kính với kinh này, chỉ nên tu luyện khí và tinh.


Bài 2

Phiên âm: Đạo tại nhân vi nhật dụng thường, nghịch tu nhập khẩu biến thân hương. Tiện tu mặc dưỡng thiên thai tựu, ẩn khoát tường loan yết ngọc hoàng.

Dịch nghĩa: Đạo ở người là đạo lý thường dùng hằng ngày, tu ngược thuốc vào đến miệng thì toàn thân thơm. Cần âm thầm dưỡng cho thai trời thành tựu, ngầm cưỡi chim loan bay lượn đến yết kiến Ngọc hoàng.

Hoà bàn: Trong vô sinh ra hữu, có được sự phi thường. Vàng ở biển tây sinh, nước sông Lệ thơm. Lấy được quay về trong chõ nấu, đợi đan trong lò chín lấy làm lễ dâng Ngọc hoàng.

Bài 3

Phiên âm: Tây bắc đông nam tại lưỡng sương, trường phòng thúc địa hợp trung ương. Hậu nhân hiếu học thần tiên pháp, nhất dạng đan sa bổ bại trường.

Dịch nghĩa: Tây bắc đông nam nơi hai mái hiên, gian phòng dài đất thu lại hợp vào chính giữa. Người sau học cách của thần tiên, cũng giống như dùng đan sa lấp vào chỗ hỏng.

Hòa bàn: Con hổ đực, con rồng cái mỗi con một mái, nhờ mai mối dẫn dắt vào giữa. Khi luyện chớ xem thường, trong khoảnh khắc mà thành tựu đại đạo.

Bài 4

Phiên âm: Thử pháp chân trung diệu cánh chân, vô đầu vô vĩ hựu vô hình. Yểu minh hoảng hốt năng tương kiến, tiện thị siên phàm xuất thế nhân.

Dịch nghĩa: Phép này trong chân có diệu lại càng chân. Không đầu không đuôi cũng không có hình dạng. Nếu trong cõi tối mờ u nhàn có thể gặp gỡ nó, anh chính là người siêu phàm xuất thế.

Hòa bàn: Trong chân không có giả mà trong giả lại có chân. Lắng tai không nghe tiếng, đưa mắt nhìn lại chẳng thấy hình. Học đạo biết nắm thiên cơ có thể thi thố sức lực, đạt được ắt là cốt phàm biến thành người tiên.


Bài 5

Phiên âm: Đông Hoa tính Mộc lão tiên ông, độc tọa trường phòng vị hữu công, hốt ngộ Tây vương kim thánh mẫu, linh đan nhất hạt tiện đằng không.

Dịch nghĩa: Tiên ông họ Mộc tên Đông Hoa, ngồi một mình trong gian phòng rộng chưa có chút công phu, bỗng nhiên gặp phải Tây vương kim thánh mẫu, được một viên linh đan liền bay vụt lên không.

Hoà bàn: Nhà nhà đều từng có ông chủ, chỉ vì tham mà mê muội che mờ công lực thần thánh của mình. Nếu biết thoát ra, quay đầu tiến hành điên đảo, giữ lấy cái chí tu chân cuối cùng quay về cõi không.


Bài 6

Phiên âm: Nhất pháp thông thời vạn pháp thông, hưu phân nam bắc dữ tây đông. Triêu triêu chỉ tại quân gia xá, yêu kiến tu tri quật thổ trung.

Dịch nghĩa: Thông được một pháp thì vạn pháp đều thông, chớ phân chia nam bắc đông tây. Sáng sáng ở ngay nơi nhà anh, muốn gặp nên biết đào trong đất. 

Hoà bàn: Cửa huyền tẫn nếu thông qua được thì trăm dòng vạn nhánh đều chảy về đông. Là người nếu biết điều chân thật, giờ tý đúng lúc dương sinh, trăng đúng độ giữa trời.
Bài 7

Phiên âm: Hoàng hạc lâu trung xuy địch thời, bạch bình hồng liễu mãn giang mi. Trung tình dục tố vô nhân thức, chỉ hữu thanh phong minh nguyệt tri.

Dịch nghĩa: Khi thổi sáo trong lầu Hoàng Hạc, bèo xanh cỏ đỏ đầy bến sông. Tấm tình tha thiết muốn tỏ bày mà không người biết, chỉ gió mát trăng thanh là hiểu thôi.

Hoà bàn: Sáo sắt thổi say mê đúng vào giờ tý, một vầng trăng sáng bên bến sông. Bên trong cảnh đó là đầu mối đạo chân, thử hỏi các anh có hiểu không?

Bài 8

Phiên âm: Pháp thị tiên thiên nhất điểm khí, tương lai đoạn luyện tác nguyên thần. Pháp quan tồn tưởng khu lôi sứ, luyện thử phương năng thượng ngọc kinh. 

Dịch nghĩa: Pháp chính là chút khí tiên thiên, trong tương lai luyện thành nguyên thần. Theo pháp tồn giữ tâm tưởng, đuổi sấm động đi xa. Luyện cách này có thể lên đến Ngọc kinh (cõi tiên).

Hoà bàn: Thái ất hàm chứa khí tiên thiên, tàng ẩn linh dương mà dưỡng lấy tinh thần. Hai thứ này nếu hòa hợp với nhau có ngày bay lên ra mắt ở Ngọc kinh.

Bài 9

Phiên âm: Nhị bát giai nhân thể tự tô, yêu gian trượng kiếm trảm ngu phu. Phân minh bất kiến nhân đầu lạc, ám lý giao quân cốt tủy khô.

Dịch nghĩa: Giai nhân đương độ mười sáu thân mềm như bơ sữa, từ thắt lưng rút kiếm chém anh ngu ngơ. Rõ là chưa thấy đầu rơi, mà đã ngầm thấy xương cốt khô.

Hoà bàn: Vô tình còn sợ chi tấm thân mềm, không chấp “sắc” “không” chính là trượng phu, biết cho cương nhu nương lẫn nhau, khí nhất dương mùa xuân không khô cứng.


Bài 10

Phiên âm: Hội độc tiên kinh vạn quyển đa, thiên thiên chỉ giáo vận Hoàng hà. Thử trung hữu trản trường sinh tửu, vấn đạo thời nhân năng thực ma?

Dịch nghĩa: Đọc hơn vạn quyển kinh tiên, từng chương từng chương chỉ dạy việc chuyển vận Hoàng Hà. Trong lời chỉ dạy đấy có chén rượu trường sinh, hỏi lúc luyện đạo người ta có thể uống chăng?

Hòa bàn: Chỉ một câu mà thông được chỗ huyền vi, không cần nhiều lời. Người người ra sức kéo ngân hà, có nhiều hoa tuôn rơi trên đỉnh Côn Luân, không phải thần tiên thì là chi?

Bài 11

Phiên âm: Triêu du bắc hải (có bản ghi “Bắc Việt”, bản ghi “Bách Việt”, bản ghi “Nhạc Ngạc”) mộ thương ngô, tụ lý thanh xa đãn khí thô. Tam túy Nhạc Dương nhân bất thức, lãng nhiên (có bản ghi “ngâm”) phi quá Động Đình hồ.

Dịch nghĩa: Buổi sớm dạo chơi nơi biển bắc, chiều về trên cây ngô đồng xanh biếc, trong tay áo con rắn xanh ngang tàng phun hơi. Say nhiều phen ở Nhạc Dương mà không người biết, ung dung bay qua hồ Động Đình.

Hòa bàn: Một đôi loan phượng đùa trên cây ngô đồng xanh biếc, tính tình hòa hợp nhau phải nhờ sự tinh thô. Có người biết được lý trong huyền, hà tất phải leo núi và lênh đênh trên hồ.


Bài 12

Phiên âm: Ngã mệnh tùng lai bản tự nhiên, quả nhiên do ngã bất do thiên. Kim đan nhất phục thân thông thánh, khả tác bồng lai lãng uyển tiên.

Dịch nghĩa: Mệnh của ta từ xưa tới nay vốn gốc ở tự nhiên, rõ ràng do ta chẳng do trời. Kim đan vừa uống thân đã lên hàng thánh, có thể làm tiên giữa chốn bồng lai mênh mông.

Hòa bàn: Đạo vốn không lời, chỉ là sự tự nhiên. Chân diên muốn biết phải xem trời trong đất. Hà xa chuyển vận lên đỉnh Côn Luân, qua khỏi cõi người vào cõi thánh mà thành tiên.


Bài 13

Phiên âm: Tu tiên bất vấn nam hòa nữ, luyện dược vô câu phú dữ bần. Nhất niệm bất sai giai khả tác, ngã tri bất thị thế gian nhân.

Dịch nghĩa: Tu tiên không cần phân biệt nam hay nữ, luyện đan không kể giàu hay nghèo. Luôn giữ một niệm cũng sai lạc, ta biết đây không phải người trần.

Hòa bàn: Vương Mẫu vốn là một nữ nhân bình thường, Cát Hồng cảnh nhà vô cùng nghèo. Hai vị tiên này đều có nhiều điều đáng học hỏi, nói lắm mà lời lành thì chẳng ngại người chê.

Bài 14

Phiên âm: Thần tiên ca quyết tiết thiên cơ, phương tiện từ bi chỉ thế mê. kiến giả mạc sinh điên đảo kiên, đại gia đô hiếu học trang si.

Dịch nghĩa: Những bài ca, kệ của thần tiên đều tiết lộ thiên cơ, từ bi đức độ chỉ cho thế gian mê muội. Người thấy được chớ sinh hoài nghi điên đảo, người người thường thích học lấy sự dại khờ.

Hòa bàn: Từng chương từng chữ có chân cơ, người ngộ ra hãy quay đầu lại, chớ bám vào cõi mê. Đại đan thuốc quý khó gặp được, gặp mà không luyện thật ngu si.


Bài 15

Phiên âm: Bất tử kim đan chủng thổ sa, chư nhân hội đắc tảo ly gia. Nhất tâm chỉ vọng trường sinh lộ, thiết mạc như phong khổ luyến hoa.

Dịch nghĩa: Loại cát kim đan giúp người bất tử. Mọi người hiểu ra nên sớm rời nhà, một lòng chỉ trông theo con đường trường sinh, chớ như con ong khổ sở luyến lưu hoa.

Hòa bàn: Không phải kim loại, không phải thảo mộc, cũng không là cát, thứ này vốn có ở ngay nhà. Đức Phật từ lâu đã tiết lộ hoàn toàn, vì sao cuối cùng lại ngắt hoa.


Bài 16

Phiên âm: Chân diên đại dược bản vô hình, chỉ tại nhân tâm ám dữ minh. Lão tử hoài thai thập cá nguyệt, công hạnh viên mãn tự thông linh.

Dịch nghĩa: đại dược là chân diên vốn vô hình, chỉ do tâm con người mà sáng hay tối. Lão tử mang thai mười tháng, công hạnh viên mãn tự trở nên thần thông, linh diệu.

Hoà bàn: Anh câm nằm mơ, tỉnh giấc không diễn tả ra được, có miệng mà khó nói chỉ riêng mình tỏ tường. Máu thắm, túi da (ở thân người) là của báu vô giá, nếu luôn giữ cho thân trẻ trung ắt sẽ trở nên thần thông, linh diệu.

Bài 17

Phiên âm: Đỉnh lô an lập thủy kỳ tâm, bát lạng chu sa bát lạng kim. Hòa hợp thiên bình đoài định liễu, tiện tu tử tế định phù trầm.

Dịch nghĩa: Lò vạc đặt vững, giữ lấy tâm, tám lạng chu sa tám lạng vàng. Hòa hợp trời bằng, an định mãi. Cũng cần định rõ rệt nổi chìm.

Hòa bàn: Đêm trước dốc lòng phải kiên tâm, nung luyện cho đồng hóa thành vàng đỏ. Đỏ au rực rỡ chiếu đến sườn núi biếc, đan thành có được diệu quyết để định nổi chìm.

Bài 18

Phiên âm: Phụng chân tu đạo thủ trung hòa, thiết chử thành châm yếu trác ma. Thử sự bản nhiên vô đại xảo, chỉ tranh nhật trục dụng công đa.

Dịch nghĩa: Phụng sự chân, tu lấy đạo, giữ sự trung hòa (vừa phải), chày sắt muốn thành kim phải mài giũa. Việc này vốn không nhờ sự khéo léo, chỉ cần mỗi ngày bỏ ra nhiều công phu.

Hòa bàn: Mỗi người đều được bẩm thụ khí nguyên hòa này từ trời, nên luôn đem Chân ra mài giũa. Xưa nay những người thành tiên đạt đạo, đều nhờ đào đất nhặt nhiều diên.

Bài 19

Phiên âm: Nhất dương khí phát dụng công phu, nhật nguyệt tinh hoa chiếu ngọc hồ. Đáo thử căng quan hưu vọng đọng, khủng phòng trụy lạc Động Đình hồ.

Dịch nghĩa: Khí nhất dương nổi lên thì luyện công phu, ánh sáng tươi đẹp của mặt trăng mặt trời chiếu vào hũ ngọc. Đến lúc này đóng chặt, chớ vọng động, bằng không e rơi thẳng xuống hồ Động Đình.

Hòa bàn: Đạt Ma hằng ngày luyện công, một mình ngồi bên đám cỏ lau dài cùng bầu rượu. Công phu luyện thành, nghiêng cốc tưới lên đỉnh đầu, nhổ cộng cỏ lau bước lên mà đi qua mặt hồ ở phía đông.
Bài 20

Phiên âm: Khúc giang nguyệt hiện thủy trừng thanh, mộc dục tu đương định chủ tân. nhược đắc thủy ôn thân noãn xứ, tiện đương lao cố biện tiền trình.

Dịch nghĩa: Dòng sông uốn khúc, trăng lên nước trong veo, tắm gội cần định rõ chủ khách. Nếu gặp nước ấm toàn thân ấm, liền nên giữ vững làm tiền trình (bước khởi đầu).

Hòa bàn: Hái thuốc phải biết trong và đục, khoan dung để người vui làm chủ ta làm khách. Nếu không dùng lửa lớn nung nấu, chỉ ngồi im chớ nghĩ đến việc tu luyện tiếp.


Bài 21

Phiên âm: Long hổ tương phùng thượng chiến trường, sáp thời bán khắc định hưng vong. Chư quân giáng ác đương hành thiện, nhược yêu tranh cường tất tổn thương.

Dịch nghĩa:Rồng hổ gặp nhau trên chiến trường, trong phút chốc chỉ nửa khắc mà phân định thắng thua. Khuyên các anh gạt bỏ điều xấu nên làm việc thiện, nếu muốn tranh lấy thế mạnh ắt chịu tổn thương.

Hòa bàn: Năm khí hướng về nguyên làm nên chốn đạo, nhiều sắc hoa đẹp tụ trên đỉnh thì vạn điều gian tà biến mất. Say đắm cảnh đẹp thì nên cẩn thận, đề phòng nguy hiểm thì chẳng bị tổn thương.

Bài 22

Phiên âm: Đạo bản vô ngôn pháp bản không, cưỡng danh chỉ tác hổ hòa long. Thiên nhiên nhất vật chân nguyên thủy, ẩn tại diêm phù đồng loại trung.

Dịch nghĩa: Đạo vốn không lời, pháp vốn là không, miễn cưỡng gọi tên chỉ rồng chỉ hổ. Tự nhiên có một vật là chân nguyên thủy, ẩn ở ngõ hẹp, nổi lên nơi đồng loại.

Hòa bàn: Phải tin rằng kim đan vốn là không, để thành công cần dùng hổ và rồng. Giờ tý vận vào đỉnh Côn Luân, giờ ngọ tuần hoàn trong biển rộng.


Bài 23

Phiên âm: Nhân ngôn ngã đạo thị hư phù, ngã tiếu thế nhân thái một mưu. Nhất hạt kim đan trường mệnh dược, ám trung thất liễu bất tri sầu.

Dịch nghĩa: Người bảo đạo của ta phù phiếm, ta lại cười người không biết toan tính. Một viên kim đan là thuốc trường sinh, vô tình đánh mất mà chẳng biết âu sầu.

Hòa bàn: Luyện đan phải biết sự nổi chìm, chuyên luyện hòan đan thì nên cố gắng. Dạy cho người sau có thể luyện thành, không cần ngày đêm ưu sầu mãi.


Bài 24

Phiên âm: Long hổ kim đan diệu hợp thiên, phong vân tế hội tiết cam tuyên. Bạch đầu Lão tử năng tri thử, phản lão hoàn đồng thọ vạn niên.

Dịch nghĩa: Rồng hổ, kim đan khéo hợp với trời, gió mây hội tụ chảy ra dòng suối ngọt. Lão tử bạc đầu biết ra điều này, cải lão hoàn đồng thọ vạn năm.

Hòa bàn: Kim đan, đạo lý diệu huyền vốn là thứ tiên thiên, ẩn nơi khôn, hóa thành suối ngọc. Cây tùng cây bách nhờ nó tưới mà gốc rễ vững bền, chịu được phong sương, năm giá rét.


Bài 25

Phiên âm: Lưỡng khẩu tương phùng thị Lã nham, chư nhân thức đắc mạc hồ đàm. Ly trung lực lượng nhân nan địch, năng bả càn khôn nhất đảm đảm.

Dịch nghĩa: Hai miệng gặp nhau chính là hang họ Lã, những người biết được chớ bàn loạn ra ngoài. Lực lượng trong ly, người khó địch được, gôm được càn khôn vào một gánh mà gánh đi.

Hòa bàn: Bắt hổ phải vào tận hang hổ, nuốt tiếng bưng lời tuyệt đối không bàn luận một câu. Bắt được con hổ nắm dắt đi, cho hợp cùng con rồng trong một gánh mà gánh.


Bài 26

Phiên âm: Giáng long tu yêu chí như thiên, phục hổ tâm hùng khí tự yên. Si xuẩn ngu nhân năng hội đắc, quản giáo lập địa tác thần tiên.

Dịch nghĩa: Bắt rồng phải có chí cao như trời, bắt hổ tâm hùng mạnh khí dâng như khói. Anh si anh ngốc mà ngộ ra, lập tức sánh được cùng thần tiên.

Hòa bàn: Để tâm yếu khí suy tức xem thường trời, bốn vật che trùm lẫn nhau tối đen như khói, hạng này cũng giống loài cầm thú, làm sao thấy được tiên ngọc trên trời.

Bài 27

Phiên âm: Nhất bản mai hoa thập nguyệt khai, dự tiên đãi đắc tảo xuân lai. Mộc vi thượng thả tri thời cảnh, nhân bất hồi đầu chỉ đắc bảo.

Dịch nghĩa: Một gốc mai nở hoa vào tháng mười, báo trước mùa xuân sẽ sớm đến. Cái cây tinh tế còn biết cảnh biết thời, người không quay đầu chỉ trơ nỗi ngu si. 

Hòa bàn: Cây khô gặp mùa xuân lại nở hoa, đều bởi nhất dương trong trời đất đã trở về. Con người tuổi già khó làm trẻ lại, chỉ bởi khăng khăng giữ lấy tham sân.

Bài 28

Phiên âm: Phương phương du hóa xướng tiên ca, phản bị thời nhân tiếu thị ma. Bất thức chân kim như phẫn thổ, lão long bả tác độc xà sa.

Dịch nghĩa: Dạo khắp ơi nơi ca bài ca tiên để giáo hóa người, ngược lại còn bị người cười chê là tà ma. Họ không hiểu biết xem chân kim như phân tro, xem rồng là rắn độc mà lỡ bước bỏ qua.

Hoà chú: Tu hành điên đảo hát bài ca về đạo, từng lời từng lời cắt bỏ quái, đuổi xua ma. Người muốn bước lên lối bồng lai, phải dụng công để tâm khỏi lỡ làng., 


Bài 29

Phiên âm: Tích niên du hý Nhạc Dương lâu, hiếu cá oanh hoa, anh vũ châu. Kim nhật trùng lai khiết mỹ tửu, cố nhân đa bán táng hoang khâu.

Dịch nghĩa: Năm xưa vui chơi trên lầu Nhạc Dương, ưa chim oanh, hoa cỏ trên bãi Anh Vũ. Nay trở lại với bầu mỹ tửu trong veo, bạn xưa hơn một nửa đã bị chôn nơi gò vắng.

Hòa bàn: Ngồi tĩnh tọa trong lều tranh hơn ở nơi lầu cao, nhẫn nại trì giữ công phu vẹn toàn lên tới mười châu. Than cho những kẻ sĩ nơi nhà ngọc, văn chương rực rỡ như gấm hoa rồi cũng bị vùi chôn ở gò hoang.


Bài 30

Phiên âm: Ngao du đại địa thập dư thu, khuyến hóa thời nhân bất khả tu. Lưu thử nhất thiên chân ảo diệu, phiêu nhiên trực thướng Phượng Lân châu.

Dịch nghĩa: Dạo chơi khắp thế gian đã hơn mười mùa thu. Khuyên răn giáo hóa mà người chẳng chịu tu. Lưu lại đây một quyển sách diệu kỳ chân thật, theo gió lướt thẳng lên bãi Phượng Lân.

Hòa bàn: Nóng đi rét đến xuân rồi thu, đời người như mộng nên sớm tu. Tiên gia há nói lời phù phiếm, ngộ được gió huyền thì lên thẳng mười châu.

Bài 31

Phiên âm: Khổ khuyến nhân tu bất khẳng tu, khước tương ân đức phản vi cừu. Như kim hồi thủ triều thiên khứ, bất quản nhân gian đắc tự do.

Dịch nghĩa: Vất vả khuyên người nhưng chẳng ai chịu tu, lại xem ân đức đó như mối thù. Nây nếu quay đầu hướng về trời, dù ở chốn nhân gian vẫn tự do. 

Hoà bàn: Người đời nên sớm phát tâm tu tập, vợ chồng ân sâu đều là kẻ thù. Không tin vào lời nên tự xét lấy, mắt mờ lưng còng bởi vì đâu?
Bài 32

Phiên âm: Phù danh phù lợi sự như phong, phiêu lai phiêu khứ hữu hà công? Chư nhân các tự nghi tam tỉnh, mạc bả tiên phương đương thoát không.

Dịch nghĩa: Danh lợi phù phiếm như cơn gió, dạt đến trôi đi có được gì? Mỗi người nên tự nghiền ngẫm kỹ, chớ xem chốn tiên là hư không.

Hòa bàn: Ống tay áo của Thuần Dương rộng lớn ẩn đầy gió xuân, trở về thôi, công phu này lớn vô cùng. Để lại huyền cơ làm báu vật vô giá. Ngọc Thiềm giải thích, Hoà cũng xin bàn thêm về “không”.

(Hết)