Đỗng Huyền Linh Bảo Định Quan Kinh

洞 玄 靈 寶 定 觀 經
Đỗng Huyền Linh Bảo Định Quan Kinh

夫欲修道,先能舍事。
Phu dục tu đạo, tiên năng xá sự 。
Muốn tu đạo ấy, trước hay ngưng việc

Người đã thấu hiểu trò đời mộng ảo, thế gian vô thường: sống nay chết mai, 8 khổ vây quanh, sanh già bệnh chết, thương phải chia lìa, ghét bị gặp gỡ, lòng muốn chẳng toại, thua thiệt buồn rầu, tai nạn ít đâu, bệnh già khó tránh. Thở ra không về, ô hô ai tai, thân ra đồng nội, tình thù đeo mang, theo nghiệp trôi lăn, 6 nẽo luân hồi, dễ đâu trở lại. Thân người khó được, nếu chẳng lo tu, tương lai mịt mù, làm sao ra khỏi. Duyên lành đời trước, đọc được sách kinh Phật Tiên giáo huấn, buông bớt việc trần. Lâu đài trên cát, dẫu lo đắp xây, thở xong hơi tàn, đâu mang theo được, mau lo thu gọn, xếp sắp vệc nhà, bớt dần ác duyên, gần gũi bạn lành, học hỏi sách kinh, biết nẽo quay về, tập theo giới luật, dành dụm thời gian, công phu thiền định.

外事都絕,無與忤心。
Ngoại sự đô tuyệt, vô dữ ngỗ tâm 。
Việc ngoài dứt hết, tâm ác không còn

Nếu không vướng bận, vợ con hiệp đoàn, thân thật rảnh rang, dể lo tu tập, người mang trách nhiệm, bổn phận gia đình, phải lo chu toàn, không để oán trách, dù việc nhiều ít, đều khó công phu, nếu muốn lo tu, biết đủ bớt lại, lâu ngày ít việc, chuyên cần giữ giới, ác nghiệp lánh xa. Điều gì không muốn, đừng mang cho người; biết mọi chúng sanh, đều có Phật tính, người đầu thai thú, thú đầu thai người, đâu nở sát sinh, người thân kiếp trước, vui theo chay lạt, lánh xa nghiệp sát. Mình sợ bị mất, đâu tham của người, nay không tham một, sau không mất mười. Biết pháp như huyễn, đẹp kia sẽ tàn, thân người bất tịnh, 9 lỗ chảy rịn, toàn chất tanh hôi, ái dục xa rồi, không nhìn lại nữa, coi như đồ mữa, huống là tà dâm. Miệng thà im lặng, hoặc nói pháp lành, không ham tranh luận, không nói việc đời , không lời ác ngữ, không lời dối trá. Những món say sưa, như là rượu trà, thuốc, men, mờ óc, đều kiêng xa lánh. Làm người hiếu thuận, sống theo pháp lành, có lòng nhẫn nhục, thương xót chúng sanh, tôn trọng mọi người, coi khổ của người, như đau của mình, không vì nhân gì  thương tổn kẻ khác. Thân nghiệp đoan chính, khẩu nghiệp thiện lương, ý nghiệp thanh tịnh, thích nơi thanh vắng, chuyên cần nhiếp tâm.

然後安坐,內觀心起。
Nhiên hậu an tọa, nội quan tâm khởi 。
Về sau ngồi yên, trong xem tâm khởi

Vào lúc đầu hôm, giữa đêm, gần sáng, không mê ham ngũ, thức tỉnh công phu. Để được ngồi yên, trước điều thân thể: ăn đừng quá no: hơi thở cấp bách, ăn không quá đói: tâm chẳng tập trung. Những vật chẳng hợp, thà nhịn không ăn, thân được yên bình,  ít sinh bệnh  chướng. Ngũ nghĩ vừa phải, cần mẫn siêng tu, biếng lười ngũ nhiều, đời nào dứt nghiệp, vô thường quĩ dữ, chẳng có chờ ta. Hàng ngày sinh hoạt, hạn chế động thô, hơi thở đều hòa, tâm dễ nhiếp phục. Đến giờ tu tập, ngồi vào bồ đoàn, yên ổn giây lâu, sửa chân kiết già, nới rộng thắt lưng, chuyển thân vài lần, giữ xương sống thẳng, thổi ra hơi cũ, hít dưỡng khí vào, vài lần như  vậy, không thô, không trệ. Hai mắt khép hờ, giữ thân ngay thẳng, chẳng hoãn chẳng gấp.
Thân đã  tạm an, trong giữ chánh niệm, hoặc niệm hồng danh, hoặc đếm hơi thở, hoặc vận châu thiên, hoặc thủ khiếu huyệt, …., phương tiện dẫu khác, các pháp môn trên, đều dùng điều tâm,  cùng về nhập định.

若覺一念起,須除滅務令安靜。
Nhược giác nhất niệm khởi, tu trừ diệt vụ lệnh an tĩnh 。
Nếu biết một niệm khởi, tu trừ diệt niệm giữ tâm an tỉnh

Tập khí nhiều đời, tâm vượn ý ngựa, mong việc sẽ đến, tưởng việc đã qua, toan tính hơn thua, thị phi phải trái, cả thảy  niệm tưởng, đều cần tỉnh giác: biết là huyển hóa, như bóng trong gương, như trăng đáy nước; không chạy theo nó, giữ vững pháp môn, tâm tức tương y, nội tỉnh nhất tâm. Không rũ được mình, vọng niệm tự lui, lâu ngày chầy tháng, vọng niệm thưa dần.

其次,雖非的有貪著,浮游亂想,亦盡滅除。
Kì thứ, tuy phi đích hữu tham trứ, phù du loạn tưởng, diệc tận diệt trừ 。
Tiếp đó, dù không có mong tạo, phù du loạn tưởng, cũng diệt tận hết.

Chánh niệm tỉnh giác, siêng năng tu tập, nghiệp cũ cạn dần nghiệp mới không gieo, phù du loạn tường  lần lượt tiêu trừ.

晝夜勤行,須臾不替。
Trú dạ cần hành, tu du bất thế 。
Đêm ngày siêng giữ, không phút nào lơi

Ngày đêm siêng năng, giữ gìn chánh niệm. Thân luôn ngay thẳng, không chút trệ ngại. Hơi thở đều hòa, không hoãn không gấp. Tâm biết hơi thở , không quên không trợ, không vọng không mê, thường được như vậy, mãi mãi như còn.

唯滅動心,不滅照心。
Duy diệt động tâm, bất diệt chiếu tâm 。
Riêng diệt động tâm, chẳng diệt chiếu tâm

Vọng niệm khách trần, lăn xăng dấy khởi, khách đến rồi đi, chủ vẫn ngồi nhà , bụi dấy rồi lặng, hư không bất động. Biết niệm như huyển, pháp môn kiên trì, tâm tức tương y, thường tỉnh thường giác, vọng không chỗ nương, sinh khởi liền mất, tỉnh tỉnh tịch tịch, tịch tịch tỉnh tỉnh.

但凝空心,不凝住心。
Đãn ngưng không tâm, bất ngưng trụ tâm 。
Chỉ ngưng không tâm, chẳng ngưng trụ tâm

Vô ký không tâm, mờ mờ mịt mịt, tâm không sáng suốt, ma ngũ kéo lôi, nếu để mãi vậy, sao khỏi luân hồi, mau mau tỉnh giác, đề khởi pháp môn; nếu do làm nhiều, thân mệt tâm mõi; hoặc do ăn nhiều, tự biết điều chỉnh. Tâm tức tương y, kiên trì chánh niệm, thường tỉnh thường giác, không chút sao lảng.

不依一法,而心常住。
Bất y nhất pháp, nhi tâm thường trụ 。
Không nương một pháp, mà tâm thường trụ

Pháp môn như bè, qua sông bỏ lại, phương tiện có nhiều, thích hợp thì dùng, không nên cố chấp, biết là phương tiện. Giữ tâm thường trụ, không theo ngoại duyên, không để mê mờ, thường tỉnh thường giác.

然則凡心,躁兢其次,初學息心甚難,
Nhiên tắc phàm tâm, táo căng kì thứ, sơ học tức tâm thậm nan,
Nhưng mà phàm tâm, về sau nóng nảy, mới học hơi thở và tâm khó điều.

或息不得,暫停還失。
hoặc tức bất đắc, tạm đình hoàn thất 。
hoặc hơi thở chẳng điều được, có thể tạm dừng trở lại như trước cho bớt căng thẳng, bỏ mất 1 buổi vậy.

Tập khí dẫy đầy, nay bắt ngưng lại, ngựa quen đường cũ, vượn thích chuyền cành, người mới khởi tu, chưa quen chuyển nghiệp, hay bị nghiệp chuyển, như người đẩy xe, tâm dẫu muốn yên, nhưng quá khẩn trương, dễ sinh bệnh hoạn. Tạm dừng một buổi, lấy trớn tu sau, kỳ tiếp tiến hơn , lâu ngày quen dần, thảnh thơi vô ngại, như người ngồi xe.

去留交戰,百體流行。
Khứ lưu giao chiến, bách thể lưu hành 。
Đi lại giao chiến, bách thế lưu hành

Linh hoạt phương tiện, tùy lúc biến thông, không câu, không nệ, chẳng thiên chẳng chấp, chớ quên chớ trợ. Bắt đầu tâm thô, phương tiện cần mạnh, như người thầy giáo, để giữ trật tự, đập thước vào bảng. Khi tâm an định, hơi thở nhỏ nhẹm, phương tiện vi tế, như thầy lặng lẽ, xem trò làm bài.

久久精思,方乃調熟。
Cửu cửu tinh tư, phương nãi điều thục 。
Lâu ngày ý niệm dần được tinh khiết, là đã được điều khiển thuần thục

Nước chảy đá mòn, kéo dây đứt gỗ, cần mẫn tu tập, theo đúng pháp môn, lâu ngày quen thuộc, rặt ròng chánh niệm, vui sâu chánh định. Bước vào công phu, thong thả dụng công, như đi dạo mát, không điều tự điều, như trăng vẫn sáng.

勿以暫收不得,遂廢千生之業。
Vật dĩ tạm thu bất đắc, toại phế thiên sanh chi nghiệp 。
Không vì tạm thu chưa được, mà bỏ con đường lên trời.

Bắt đầu luôn khó, phải nên tinh tấn, cần mẫn dụng công, để ý theo dõi. Thất bại lần này, kinh nghiệm lần sau, đối chiếu trong kinh, học hỏi người trước. Tất cả sự nghiệp, ở thế gian này, đều phải dụng công, lao động mới có, muốn tu dứt nghiệp, hẵn phải kiên trì, nhẫn nại vượt khó. Đã có kinh sách, đã có đường đi, sinh thuở thái bình, y thực có đủ, chờ gì không tu. Xem xung quanh ta, người thân chết dần, người bệnh không thiếu, người già thường gặp, đều là thiên sứ, đến nhắc ta rằng, ai rồi cũng vậy. Thời giờ luống qua, nếu không tinh tấn, ăn năn đã muộn; mất đi thân người, như rùa giữa biển, khó tìm bộng cây. Không để bỏ phế, làm lại nếu sai.

少得靜已,則於行立坐臥之時,涉事之處,喧鬧之所,皆作意安。
Thiểu đắc tĩnh dĩ, tắc vu hành lập tọa ngọa chi thì, thiệp sự chi xử, huyên nháo chi sở, giai tác ý an 。
Nếu điều kiện ít được an tĩnh, thì trong khi đi đứng ngồi nằm, lúc phải tiếp xúc, nơi thường ồn ào, đều giữ lòng an ổn.

Tùy theo hoàn cảnh, trong mọi điều kiện, thế sự đẩy đưa, không thể lựa chọn, cảnh dầu thuận nghịch, linh hoạt giữ tâm, trong mọi oai nghi, khi phải tiếp xúc, tâm không tham luyến, thường xét lẽ thật : mọi vật không bền, ái dục sinh khổ, thành trụ hoại không, thân người uế trược, lìa xa ái nhiểm, không bị chi phối, giữ được tâm yên.

有事無事,常若無心。
Hữu sự vô sự ,thường nhược vô tâm 。
Có việc không việc, thường bỏ qua không lưu tâm.
處靜處喧,其志惟一。
Xử tĩnh xử huyên ,kì chí duy nhất 。
Nơi ồn, nơi vắng, một lòng không khác.

Động tĩnh thuộc cảnh, kiên định do ta, gió thổi phướng rung, không để tâm động, thành tâm bền chí, phương tiện thiện xảo, biết chọn để dùng, sẽ được thành công.

若束心太急,又則成病。
Nhược thúc tâm thái cấp ,hựu tắc thành bệnh 。
Nếu bó buộc tâm gấp, sẽ gây nên bệnh.

氣發狂顛,是其候也。
Khí phát cuồng điên, thị kì hậu dã 。
Về sau Khí phát cuồng điên,

Bền lòng giữ chí, như người thợ xây, mỗi lần một ít, lâu ngày chầy tháng, mới được trọn vẹn, nếu quá gấp xây, không thể sớm thành, có khi uổng công, vừa mất thời gian, hư luôn vật liệu. Tuần tự mà bước, không thể hối thúc.

心若不動,又須放任。
Tâm nhược bất động ,hựu tu phóng nhâm 。
Nếu tâm chẳng động, lại nên buông xã

寬急得所,自恒調適。
Khoan cấp đắc sở ,tự hằng điều thích 。
Cần hoãn hay gấp, chọn dùng thích hợp.

Nếu không sáng suốt, cần xét lý do, điều chỉnh thích nghi, chọn thuốc đúng bệnh, không ngoài tịch chiếu.

制而不著,放而不動。
Chế nhi bất trứ ,phóng nhi bất động 。
Ngăn mà không chấp, buông mà chẳng động.

Ngăn vọng trừ vọng, vọng hết còn ngăn, ngăn cũng buông bỏ, người ngăn chẳng còn, mới không chướng ngại, tịch phải thường chiếu. Xã trừ tham chấp, phải luôn sáng suốt, Tâm vẫn làm chủ, không lạc ngoan không, chiếu phải thường tịch.

處喧無惡,涉事無惱者,此是真定。
Xử huyên vô ác ,thiệp sự vô não giả ,thử thị chân định 。
Chỗ ồn không khởi tâm ác, tiếp xúc không bực bội, ấy là chân định.

Không tâm tranh đấu, chẳng coi mình hay, thu hoạch bước đầu, không cho là được, chấp ngã không còn, khổ vui xã bỏ, kiên trì chánh niệm,

不以涉事無惱,故求多事;
Bất dĩ thiệp sự vô não ,cố cầu đa sự ;
Không vì tiếp xúc không bực bội mà tham cầu nhiều việc;

不以處喧無惡,強來就喧。
bất dĩ xử huyên vô ác ,cường lai tựu huyên 。
không vì ở chỗ ồn không khởi ác tâm mà hay đến chỗ ồn.

Thế sự đổi đời, sát na liền khác, vật đổi sao dời, thân này vô chủ, dứt tâm chấp ngã, bỏ thân ra ngoài, cảnh thuận không vui, cảnh khổ không đổi, giữ tâm vững vàng, mới là chân định.

以無事爲真宅,有事爲應迹。
Dĩ vô sự vi chân trạch ,hữu sự vi ứng tích 。
Lựa chọn lấy không việc, nếu phải gặp việc thì ứng xử thích nghi.

若水鏡之爲鑒,則隨物而現形。
Nhược thủy kính chi vi giám ,tắc tùy vật nhi hiện hình 。
Như mặt nước lặng soi vật, theo vật hiện hình.

Tâm như gương trong, có cảnh thì hiện, không cảnh thì thôi, cảnh không cố ý, gương vẫn vô tình.

善巧方便,唯能入定。
Thiện xảo phương tiện ,duy năng nhập định 。
Phương tiện khéo dùng, để thường nhập định.

慧發遲速,則不由人。
Tuệ phát trì tốc ,tắc bất do nhân 。
Tuệ phát chậm mau, không theo ý người.

勿令定中,急急求慧。
Vật lệnh định trung ,cấp cấp cầu tuệ 。
Đừng tại trong định lại khởi tâm gấp gáp cầu tuệ

急則傷性,傷則無慧。
Cấp tắc thương tính ,thương tắc vô tuệ 。
Gấp sẽ hại tính, hại tính thì không có tuệ.

若定不求慧,而慧自生,此名真慧。
Nhược định bất cầu tuệ ,nhi tuệ tự sanh ,thử danh chân tuệ 。
Nếu định không cầu tuệ mà tuệ tự sanh, mới thật là tuệ.

慧而不用,實智若愚。
Tuệ nhi bất dụng ,thật trí nhược ngu 。
Tuệ mà chẳng dùng, Thật là tuệ lại giống như chưa có.

益資定慧,雙美無極。
Ích tư định tuệ ,song mĩ vô cực 。
Chỉ bồi đắp định tuệ sẽ tốt đẹp vô cùng.

若定中念想,多感衆邪。
Nhược định trung niệm tưởng, đa cảm chúng tà 。
Nếu trong định sinh niệm tưởng tham luyến ý tà.

妖精百魅,隨心應見。
Yêu tinh bách mị ,tùy tâm ứng kiến 。
Yêu tinh quỷ mị sẽ theo tâm mà hiện.

所見天尊,諸仙真人,是其祥也。
Sở kiến thiên tôn ,chư tiên chân nhân ,thị kì tường dã 。
Nếu thấy thiên tôn, chư thiên chân nhân, cũng từ tâm hiện ra.

唯念定心之上,豁然無覆;
Duy niệm định tâm chi thượng, khoát nhiên vô phúc ;
Chỉ niệm định tâm thì trên chẳng bị lụy vì lợi dục,

定心之下,曠然無基。
định tâm chi hạ ,khoáng nhiên vô cơ 。
Chỉ niệm định tâm thì dưới chẳng bị lụy vì đói khổ.

舊業日消,新業不造。
Cựu nghiệp nhật tiêu ,tân nghiệp bất tạo 。
Nghiệp cũ dần tiêu, nghiệp mới chẳng tạo.

無所挂礙,迥脫塵籠。
Vô sở quải ngại ,huýnh thoát trần lung 。
Không gì trở ngại, sẽ thoát trần lao.

行而久之,自然得道。
Hành nhi cửu chi ,tự nhiên đắc đạo 。
Hành được lâu dài, tự nhiên được Đạo.

夫得道之人,凡有七候。
Phu đắc đạo chi nhân ,phàm hữu thất hậu 。
Người được đắc Đạo, được 7 điều sau.

一者,心得易定,覺諸塵漏。
Nhất giả ,tâm đắc dịch định, giác chư trần lậu 。
Một là Tâm dễ an định, tĩnh giác các trần lậu.

二者,宿疾普銷,身心輕爽。
Nhị giả ,túc tật phổ tiêu ,thân tâm khinh sảng 。
Hai là mọi tật bệnh dứt hết, thân tâm nhẹ sướng.

三者,填補夭損,還年複命。
Tam giả ,điền bổ yêu tổn ,hoàn niên phức mệnh 。
Ba là bồi đắp mọi khuyết tổn, quanh năm tốt lành.

四者,延數萬歲,名曰仙人。
Tứ giả ,duyên sổ vạn tuế ,danh viết tiên nhân 。
Bốn là tuổi thọ vạn năm gọi là tiên nhân.

五者,煉形爲氣,名曰真人。
Ngũ giả ,luyện hình vi khí ,danh viết chân nhân 。
Năm là luyện hình thành khí gọi là chân nhân.

六者,煉氣成神,名曰神人。
Lục giả ,luyện khí thành thần ,danh viết thần nhân 。
Sáu là luyện khí thành thần gọi là thần nhân.

七者,煉神合道,名曰至人。
Thất giả ,luyện thần hợp đạo ,danh viết chí nhân 。
Bảy là luyện thần hợp Đạo, gọi là thần nhân.

其於鑒力,隨候益明。
Kì vu giám lực ,tùy hậu ích minh 。
Tùy theo Đạo lực, mà được sáng suốt.

得至道成,慧乃圓備。
Đắc chí đạo thành ,tuệ nãi viên bị 。
Đã được thành đạo, tuệ cũng tròn đủ.

若乃久學定心,身無一候。
Nhược nãi cửu học định tâm ,thân vô nhất hậu 。
Nếu học định tâm lâu dài, thân không mai một.

促齡穢質,色謝方空。
Xúc linh uế chất ,sắc tạ phương không 。
Dù thể chất không tốt, cũng không suy tàn.

自雲慧覺,又稱成道者,求道之理,實所未然。
Tự vân tuệ giác ,hựu xưng thành đạo giả ,cầu đạo chi lí ,thật sở vị nhiên 。
Gọi là tuệ giác, cũng là đạo thành. Cầu đạo lý này là chỗ chân thật.

說頌曰:智起生於境,火發生於緣。
Thuyết tụng viết: trí khởi sanh vu cảnh, hỏa phát sanh vu duyến 。
Có lời rằng: cảnh do trí sanh, lửa phát cháy lan.

各是真種性,承流失道源。
Các thị chân chủng tính ,thừa lưu thất đạo nguyên 。
Mọi mầm mống của tính đều do từ lâu sai đường.

起心欲息知,心起知更煩。
Khởi tâm dục tức tri ,tâm khởi tri canh phiền 。
Nếu khởi tâm muốn biết, tâm biết sanh phiền não.

了知n性本空,知則眾妙門。
Liễu tri tính bổn không ,tri tắc chúng diệu môn 。
Biết được tính vốn không, cái biết ấy chính là cửa diệu.